Thứ Ba, 9 tháng 6, 2026

Yêu không phịch


Lướt qua một vòng các trang báo, tự dung thấy một cái tít trên báo Thanh Niên nói về chuyện yêu không phịch, em mới ngoi lên đây bàn luận với các cụ.

Theo các cụ, không tình dục, tức không phịch nhau, thì tình yêu có thể tồn tại bao lâu?

Với tư cách là một học sinh lớp chuyên Toán được cử vào đội tuyển học sinh giỏi tiếng Anh nhiều năm liền, em vô phép các cụ mà chém luôn, là nếu không phịch nhau, thì tình yêu cứ gọi là… vĩnh cửu.

Vì sao ư? Các cụ hãy xem em làm cái tam đoạn luận này nhé!

Đoạn 1: Hẳn các cụ đã không ít lần nhòm thấy hoặc nghe thấy câu danh ngôn của Cotton, “tình yêu là sự kết hợp giữa tình bạn và tình dục”.

Diễn đạt theo ngôn ngữ toán học, câu danh ngôn đó có thể trình bày thành đẳng thức:

Tình yêu = Tình bạn + Tình dục

⇔ Tình bạn = Tình yêu - Tình dục. (*)

Nói nôm na, đẳng thức (*) có nghĩa đại để như kiểu 2 đứa được cho là yêu nhau nhưng suốt ngày gặp nhau chỉ để làm dững việc đại để như:

- Giải bài tập về nhà.

- Giúp nhau truy bài cũ.

- Tìm hiểu về lý tưởng của nhau, đại để như: “Em hỏi anh, có con đường nào là đường đẹp nhất? Anh nói rằng chỉ có con đường thống nhất hôm nay!”

- Tìm hiểu ước mơ nghề nghiệp của nhau, như thể: “Ngày ta đi học, em nói thích nghề gì? Nghề dược! Nghề dược nờ!”

Vân vân và mây mây. Dưng tuyệt đối không phịch nhau, không rủ nhau đi hâu teo hay giả vờ đau bụng để lừa nhau vào nhà nghỉ.

Đoạn 2: Chắc nhiều cụ trải qua tuổi dậy thì trong dững năm cuối thế kỷ 20 hoặc đầu thế kỷ 21 cũng đâu đó có lần dòm thấy hoặc nghe thấy một nhóm liền bà Anh Cát Lợi gọi là “Spice Girls” hát bài Wannabe.

Bài này kể ra thì không bằng chân của Ngọc Trinh, dưng cũng rất dài, vì vậy em không tiện kể lại chi tiết nội dung của nó. Dưng có một câu trong bài được nhóm Spice Girls nhắc đi nhắc lại nhiều lần thì em phải kể ra đây, ấy là, “friendship never ends”.

Nghĩa là, theo tư tưởng của 5 người Anh Cát Lợi không lạ lùng gì chuyện phịch nhau này, thì tình bạn là cái thứ chả bao giờ kết thúc. Hay nói cho nó sang mồm, thì tình bạn là một phạm trù vĩnh viễn.

Đoạn 3: Từ đoạn 1 và đoạn 2, các cụ hoàn toàn có thể thiết lập được đẳng thức: Tình yêu - Tình dục = Vĩnh cửu.

Hay nói bằng ngôn ngữ đời thường, yêu nhau mà không phịch nhau thì tình yêu sẽ không khác gì mái đình xưa làng Việt, mà nói như cách của nhạc sỹ Nguyễn Cường là, “thi gan cùng tuế nguyệt, thênh thênh một góc trời”...

Đấy, chỉ bằng một tam đoạn luận đơn giản như vậy, các cụ cũng có thể thấy rằng, tình yêu không phịch là tình yêu vĩnh cửu.

Mà chả cần phải luận cho mất công, các cụ chỉ cần tự đè lòng mình ra mà hỏi thì cũng biết. Chưa phịch được em thì các cụ hãy còn vẫn yêu em. Chứ phịch xong nhan sắc này rồi, khéo cụ nào trông thấy em cũng phát ọe, chứ yêu đương vào cái ngõ nào, phỏng các cụ?

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2026

Vote ai, họ Nguyễn hay họ Lê?


Lướt qua một vòng mặt báo, tôi thấy báo Dân Việt có một bài khảo sát về các vương triều của nước Nam. Bấm vào xem, tôi thấy trong trong bài có một câu so sánh về số người làm vua của họ Lê và họ Nguyễn.

Tất nhiên tôi biết là họ Lê hoành hơn họ Nguyễn. Ngoài 31 ông vua của 2 triều đại (tiền Lê mấy lị hậu Lê), thì họ Lê còn sản sinh ra rất nhiều nhân vật kiệt xuất khác, tỉ như ông Lê Ô Na Đờ Vanh Xi - họa sĩ trứ danh với nhiều bức tranh sáng tác đã mấy trăm năm rồi mà giờ vẫn được coi như của quý, hoặc ông Lê Ô Nát Đô Đi Cáp Pi Rô - tài tử điện ảnh được tiếng luôn chung thủy với bạn gái 18 tuổi dù ông ấy bây giờ cũng đã gần 6 cmn xập rồi. Ấy là tôi chưa kể đến ông Lê gì có ảnh được treo khắp các hội trường mà mỗi khi có mít tinh hay hội nghị gì, người ta đều phải ngẩng đầu lên chào một cách trịnh trọng…

Mà tôi chẳng kể ra, thì cả giời cả đất đều xác quyết là họ Lê hoành hơn họ Nguyễn. Thế cho nên mới có chuyện giời giáng nhời sấm lên lá cây trên rừng, “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” - chuyện này ai cũng biết là được chép trong sách “Lịch sử 8 - Tập 1”, NXB. Giáo dục, H., 1991.

Meanwhile, họ Nguyễn của tôi thì có ít vua hơn. Và ngoài 13 vị làm vua được chép trong quyển sách “13 vị vua triều Nguyễn” của ông gì mà tôi đọc thủa bé, tôi cũng gặp rất ít người họ Nguyễn nổi tiếng được chép trong sử sách. Ở nước ngoài thì tôi chỉ thấy có 3 ông họ Nguyễn nổi tiếng được chép trong quyển “Thủy hử” là Nguyễn Tiểu Thất, Nguyễn Tiểu Ngũ và Nguyễn Tiểu Nhị làm thảo khấu Lương Sơn Bạc. Còn ở Việt Nam thì tôi chỉ nhớ vỏn vẹn mấy người họ Nguyễn nổi tiếng là Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thị Hoàng Hôn và Nguyễn gì Tuyết trong tiểu thuyết gì của bác Phụng, thêm cả cụ Nguyễn gì Hồng - thân sinh của 3 con người ấy nữa.

Nhưng tôi kệ mọe. Hễ cứ có chuyện phải vote là tôi vote cho họ Nguyễn của tôi. Nói chả phải chủ quan, sở dĩ nước Nam ta được bạn bè thế giới kính nể là vì có tinh thần quật cường và lịch sử giữ nước oai hùng. Mà sự oai hùng mấy lị quật cường đó, nói cũng chả phải chủ quan, chẳng phải là do các triều đại phong kiến đã nhất thì bét quánh bỏ mẹ phong kiến phương Bắc để giữ ngai vàng cho dòng tộc của mình hay sao?

Thế cho nên, dù cho dòng họ của tôi chỉ có 13 đời vua, thì tôi cũng nhất thì bét vote cho họ của tôi. Chứ giờ bảo một người họ Nguyễn như tôi mà vote cho họ Lê, thì nói như ông gì mà vĩ nhân mấy lại cứu quốc trong sách của bác Phụng, còn nước... mẹ gì, phỏng ạ?

Thứ Tư, 15 tháng 1, 2014

Tiền tệ hiện đại


Hẳn các sinh viên ngoan hiền của nền giáo dục ưu việt nước nhà vẫn chưa quên ví dụ kinh điển về trao đổi ngang giá theo kiểu 20kg thóc = 10m vải = 1 con cừu = 1 cái rìu. Trong ví dụ này, cái rìu được sử dụng làm vật ngang giá chung để đo lường giá trị của thóc, vải, cừu; hoặc ngược lại, thóc (hoặc vải, hoặc cừu) cũng có thể được sử dụng làm vật ngang giá để đo lường giá trị của các hàng hoá còn lại. Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác gọi đó là một hình thái sơ khai của tiền tệ. Theo quan điểm của kinh tế học chính trị mác-xít, tiền tệ về bản chất là một thứ hàng hoá đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho các hàng hoá khác. Vật ngang giá chung thường phải là loại hàng hoá có giá trị và được nhiều người ưa thích để đổi hàng hoá của mình lấy hàng hoá đó.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi thì vật ngang giá dần dần bị thay đổi, và ngày nay người ta không nhất thiết phải sử dụng những hàng hoá có giá trị để làm vật ngang giá chung nữa bởi nó vừa gây tốn kém cho xã hội vừa không thuận tiện cho việc cất giữ hoặc vận chuyển. Vì thế nên hầu hết các nước đều lần lượt chuyển sang sử dụng “dấu hiệu giá trị” để làm “vật ngang giá” bởi tính kinh tế và tiện ích của nó. Và các nhà kinh tế học hiện đại quan niệm rằng, bất cứ thứ gì được xã hội chấp nhận làm phương tiện thanh toán và trao đổi thì đều có thể được coi là tiền; bản thân chúng có thể có hoặc không có giá trị riêng.

Quan niệm về tiền tệ của các nhà kinh tế học hiện đại có thể được minh hoạ qua ví dụ cụ thể mà chúng em đưa ra dưới đây. Lưu ý rằng tên gọi của các phương tiện chỉ có tính chất minh hoạ và không nhất thiết phải khác tên thật, còn các số liệu sử dụng chưa hề được một cơ quan kiểm toán độc lập nào xác nhận.

Tiếp tục với ví dụ về tiền tệ hiện đại. Theo phản ánh của báo chí, cát-xê một lần đi hát của Phương Mỹ Chi là 5.000 đô la Mẽo[1]. Trong khi đó, theo lời khai của Hoa hậu kiêm Tú bà Mỹ Xuân, giá một lần “đi khách” của Trang Nhung là 8.000 đô la Mẽo[2]; còn theo lời của Angela Phương Trinh thì có đại gia sẵn sàng bỏ 20.000 đô la Mẽo để được gặp cô ta[3]. Từ những số liệu chưa được kiểm toán nói trên, người ta hoàn toàn có thể xây dựng được các phương trình trao đổi ngang giá như sau:


Mỹ Xuân nghe đồn giá “đi khách” của cô này là 8.000 đô la Mẽo
• 1 lần gặp Angela Phương Trinh = 2,5 lần “đi” với Trang Nhung = 4 lần nghe Phương Mỹ Chi hát, hoặc

• 1 lần nghe Phương Mỹ Chi hát = 0,25 lần gặp Angela Phương Trinh = 0,625 lần “đi” với Trang Nhung, hoặc

• 1 lần “đi” với Trang Nhung = 1,6 lần nghe Phương Mỹ Chi hát = 0,4 lần gặp Angela Phương Trinh.

Đưa ra nhiều phương trình với những con số lằng nhằng và rối rắm ở trên, chúng em muốn nói lên một điều rằng, không cứ là phải cầm đô la Mẽo hay Việt Nam đồng trong tay thì các bác mới được coi là có tiền, mà các bác hoàn toàn có thể được coi là người có tiền nếu nắm trong tay quyền được nghe Phương Mỹ Chi hát hoặc quyền được gặp Angela Phương Trinh hay “đi” với Trang Nhung, miễn là những quyền này được xã hội chấp nhận làm phương tiện thanh toán và trao đổi. Đây là một quan niệm rất có tính cách mạng và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, bởi suy cho cùng, cái mà người ta cần ở tiền tệ bất quá cũng chỉ là phương tiện lưu thông hàng hoá mà thôi.

Ấy thế nhưng ở đâu đó trên đất nước này, có lúc có nơi, người ta lại không muốn tận dụng sự ưu việt của tiền tệ hiện đại. Đấy là chúng em đang muốn nói về một thông tin được đưa trên Bản tin tài chính kinh doanh của VTV1 sáng nay (15/01/2014), mà theo đó, Ngân hàng Nhà nước khuyến cáo người dân không nên sử dụng một loại tiền ảo gọi là Bitcoin làm phương tiện thanh toán. Bản tin tài chính dẫn lời một đại diện không được nêu tên của Ngân hàng Nhà nước, giải thích rằng đạo lý của lời khuyến cáo nói trên bắt nguồn từ việc Bitcoin không được ngân hàng trung ương của các nước thừa nhận là tiền tệ và rằng Bitcoin chẳng qua là một loại mã hoá điện tử và có thể đem lại rủi ro cho những ai sở hữu nó nếu chẳng may xảy ra lỗi trục trặc trong các đoạn mã hoá của những đồng Bitcoin mà họ nắm giữ.

Cố nhiên là lý giải của đại diện Ngân hàng Nhà nước chẳng có gì sai, bởi trong nền kinh tế hiện đại thì phát hành tiền tệ là chức năng duy nhất có ở các ngân hàng trung ương, cho nên nếu ai sử dụng các loại tiền tệ không phải do ngân hàng trung ương phát hành thì cũng giống như cố tình chổng mông vào nhà cầm quyền, và dĩ nhiên là nhà cầm quyền sẽ chẳng e ngại gì mà không vụt roi thật lực vào mông của đứa nào cả gan dám chổng vào họ.

Tuy nhiên, nếu đứng trên quan điểm của kinh tế học hiện đại thì bất kì thứ gì được xã hội thừa nhận làm phương tiện thanh toán và trao đổi đều có thể được coi là tiền. Trong khi đó, Bitcoin là một loại phương tiện, tuy không phải là do ngân hàng trung ương các nước phát hành và cũng chưa được ngân hàng trung ương các nước thừa nhận, nhưng lại đang được sử dụng ngày càng nhiều trong việc thanh toán và trao đổi, chẳng những ở các nước có nền kinh tế phát triển từ đời mà còn ở cả các nước có nền kinh tế đang tập toẹ phát triển. Mà rõ ràng, nhiệm vụ của bất kì ngân hàng trung ương nào, với tư cách một bộ phận cấu thành nhà nước, là phải vươn lên để bắt kịp với những gì đang xảy ra trong nền kinh tế, vì rằng những gì thuộc về thượng tầng kiến trúc (tỉ như nhà nước) đã, đang, sẽ và luôn luôn phải đi theo và tự điều chỉnh để phù hợp với những cái thuộc về hạ tầng cơ sở (tỉ như hoạt động thanh toán và trao đổi của nền kinh tế).

Còn nếu muốn viện vào rủi ro do lỗi mã hoá để chối bỏ một phương tiện thanh toán điện tử như Bitcoin, thì chẳng phải các phương tiện thanh toán dựa trên nền tảng kĩ thuật điện tử đang được pháp luật các nước thừa nhận và cho phép sử dụng cũng thường xuyên gặp phải trục trặc về kĩ thuật đấy ư? Thậm chí nếu các nước sử dụng những “người thật, việc thật” kiểu như Angela Phương Trinh hay Trang Nhung làm phương tiện thanh toán và trao đổi thì cũng không có gì đảm bảo là các “phương tiện” này có thể lưu thông hoàn toàn thông suốt. Gặp “đèn đỏ”, chẳng hạn, là một rủi ro mà đến cả “phương tiện lưu thông” của các thống đốc ngân hàng trung ương cũng chẳng có cách nào tránh được.

Thứ Năm, 1 tháng 8, 2013

Hạch toán kế toán



Ảnh: Trường Đại học Tài chính Kế toán Cổ Nhuế

Có lần ở đâu đó anh đã từng nói, rằng Trường Đại học Tài chính Kế toán (The Big Learning School of Main Talent and Mathematical Cheats) không phải là nơi dạy cho người ta trở thành nhà toán học, mà chủ yếu là dạy người ta cách chế biến hoá đơn, chứng từ mà thôi. Tuy vậy, để chế biến được hoá đơn, chứng từ thì người ta ít hoặc nhiều cũng phải có một tí kiến thức về hạch toán kế toán. Và thế là Trường Tài chính Kế toán đè bọn anh ra bắt học môn Kế toán, cho dù anh là sinh viên Khoa Tài chính nhà nước (The Department of Main Talent Water House).


Ảnh: Các phần hành kế toán chủ yếu trong doanh nghiệp
1. Khái niệm hạch toán kế toán

Bài đầu tiên, bọn anh được học về khái niệm hạch toán kế toán. Cô giáo dạy kế toán, tạm gọi là cô Kế toán, mở quyển giáo trình dõng dạc đọc cho bọn anh chép: Hạch toán kế toán, hay Kế toán, là việc quan sát, đo lường, tính toán, ghi chép và phản ánh về tài sản và sự biến động của tài sản nhằm mục đích blah blah blah.

Chỉ cần nghe chừng đó là bọn anh cũng đã xây xẩm hết cả mặt mày, ai nấy nhăn nhó như các vị La Hán chùa Tây Phương. Tuy nhiên, chỉ làm “La Hán” được mấy phút, bọn anh đã bị cô giáo bắt “hoàn tục” với lời giải thích đầy ong bướm, đại ý, nếu các anh nắm vững khái niệm kế toán thì mỗi khi đi tán tỉnh các bạn gái xinh xinh Khoa Kế toán, thay vì phải trình bày rất chi là và này nọ, rằng “cho anh quan sát, đo lường, tính toán, ghi chép và phản ánh em phát!”, thì các anh chỉ cần nói ngắn gọn, rằng “cho anh kế toán em phát!”, thế là đủ!

Học được cái võ kia, anh áp dụng ngay lập tức. Và chỉ sau vài lần nghe trình bày khái niệm hạch toán kế toán, đã có một em sinh viên Khoa Kế toán, tạm gọi là em Kế toán, chết về tay anh. Anh phải công nhận là phương pháp giảng dạy của cô Kế toán cực kỳ hay. Chắc là thời đi học, cô cũng đã từng được các anh khoá trên “hạch toán” cho nhiều phát thì mới có cách giải thích đi vào lòng người như vậy!

2. Nghiệp vụ kế toán và định khoản kế toán

Phần lớn thời gian của chương trình học môn kế toán được dành cho việc làm bài tập. Hồi ấy các bài tập trong sách kế toán thường được bắt đầu bằng câu “Trong kì, phát sinh các nghiệp vụ sau...”. Và thế là cái cụm từ “phát sinh nghiệp vụ” dính luôn vào mồm bọn anh từ đó. Suốt mấy năm trời học ở trường Tài chính, bất cứ cái gì xảy ra trên đời, bọn anh cũng biến nó thành một nghiệp vụ kế toán, tỉ như nhức đầu thì được thì gọi là “phát sinh nghiệp vụ nhức đầu”, đau bụng thì gọi là “phát sinh nghiệp vụ đau bụng”, bị xe tông thì gọi là “phát sinh nghiệp vụ bị xe tông”, vân vân và vân vân. Nói chung là cái gì cũng phải trở thành một nghiệp vụ kế toán, như thế thì nó mới tương xứng với những sinh viên tài chính kế toán ưu tú như bọn anh!

Rồi bọn anh phải làm quen với cái việc gọi là “định khoản kế toán”. Khi đã có các nghiệp vụ kế toán phát sinh, thì việc của người làm kế toán là phải định khoản, nghĩa là phải biết cách làm thế nào để ghi “Nợ” vào một tài khoản này, đồng thời ghi “Có” vào một tài khoản đối ứng liên quan. Thế là bên cạnh việc “nghiệp vụ hoá” các sự kiện xảy ra trên trời dưới đất, bọn anh lại bắt đầu nhiễm thêm cái tật “định khoản hoá”, cái gì xảy ra cũng bị bọn anh lôi ra để định khoản: đi lĩnh tiền thầy bu gửi lên thì ghi Nợ tài khoản “Tiền mặt”, ghi Có tài khoản “Tiền đang chuyển”; đi ăn cơm thì ghi Nợ tài khoản “Chi phí ăn cơm”[1a], ghi Có tài khoản “Phải trả cho người bán”[2]; đi uống nước thì ghi Nợ tài khoản “Chi phí uống nước”[1b], ghi Có tài khoản “Tiền mặt”, vân vân và vân vân. Kể ra thì bọn anh cũng yêu nghề kế toán phết!

3. Thực hành kế toán

Có một lần, anh đến phòng của em Kế toán chơi, em ấy đố anh định khoản nghiệp vụ “lấy vợ”. Anh nghĩ không ra, nên xin khất, rồi đi kiếm mấy cao nhân kế toán để thọ giáo. Một thằng học Khoa Kế toán, tạm gọi là thằng Kế toán, thầy dùi cho anh, rằng lấy vợ thì ghi Nợ tài khoản 2116, ghi Có tài khoản 411[3]. Anh nghĩ, lấy vợ thì chắc là sẽ có thêm tài sản cố định và có thêm nguồn vốn, nên ghi Nợ vào tài khoản “Tài sản cố định hữu hình” (số hiệu 211)[4] và ghi Có vào tài khoản “Nguồn vốn kinh doanh” (số hiệu 411) có lẽ là hợp lý. Vậy là anh quay lại phòng của em Kế toán, trả lời như đinh đóng cột: lấy vợ thì ghi Nợ tài khoản 2116, ghi Có tài khoản 411.

Em Kế toán nhíu mày một lát rồi đùng đùng nổi giận, tống cổ anh ra khỏi phòng và tuyên bố từ nay cấm cửa. Anh chẳng hiểu mô tê gì sất, thất thểu quay về kể lại với thằng thầy dùi, thì nó ôm bụng cười ngặt nghẽo, lại còn chê anh ngu. Cười chán, thằng thầy dùi đưa cho anh quyển Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp, bảo mở ra xem. Anh làm theo lời nó thì thấy, hỡi ơi, 2116 là số hiệu của tài khoản mang tên “Súc vật làm việc và cho sản phẩm”[5].

Và anh thù thằng thầy dùi cho đến tận hôm nay. Tiên nhân mấy đời quân xỏ lá!

-----
[1] Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp do Bộ Tài chính ban hành năm 1995 chẳng có tài khoản nào tên là “Chi phí ăn cơm” hoặc “Chi phí uống nước”, nhưng bọn anh sợ đếch mà không tự đặt thêm một vài tài khoản của riêng mình. Thế thì nó mới máu, mới xứng đáng là sinh viên Đại học Tài chính Kế toán!
[2] Số liệu thống kê chưa đầy đủ cho thấy cứ 10 thằng sinh viên thì có 11 thằng ăn chịu của hàng cơm, cho nên mỗi lần đi ăn là thêm một lần mắc nợ. Miếng ăn của bọn anh hồi đó đích thị là miếng nhục!
[3] Thời đấy bọn anh thường chỉ nhớ được tên của tài khoản mà chẳng mấy khi nhớ được số hiệu tài khoản, khác với bọn sinh viên Khoa Kế toán sành điệu củ kiệu, nhớ được cả tên và số hiệu tài khoản.
[4] Tài khoản 2116 là tài khoản cấp II của Tài khoản 211, cho nên nếu ghi vào tài khoản 2116 thì cũng đương nhiên được coi là ghi vào tài khoản 211.
[5] Tài khoản 211 (Tài sản cố định hữu hình) có 7 tài khoản cấp II là 2111 (Nhà cửa, vật kiến trúc), 2112 (Máy móc, thiết bị), 2113 (Phương tiện vận tải, truyền dẫn), 2114 (Thiết bị, dụng cụ quản lý), 2115 (Cây lâu năm), 2116 (Súc vật làm việc và cho sản phẩm) và 2118 (Tài sản cố định khác). Thường thì anh chỉ nhớ được tài khoản cấp I, chẳng mấy khi nhớ đến tài khoản cấp II.

Thứ Tư, 5 tháng 6, 2013

Ăn chơi cũng phải sợ mưa rơi!


Chuyện xưa kể lại, Tần Thuỷ hoàng muốn được sống lâu để hưởng cảnh lạc thú hồng trần nên sai quan ngự y là Từ Phúc ra đảo Bồng Lai tìm thuốc trường sinh. Từ Phúc tâu rằng đấy là một món thuốc quý xưa nay khó ai tìm được, và yêu cầu Thuỷ hoàng cấp mười chiếc thuyền lớn để vượt bể Đông, trong thuyền có đủ hạng thợ và năm trăm đồng nam, năm trăm đồng nữ, phòng khi dùng đến. Thủy hoàng liền hạ lệnh sắm đủ mọi thứ cho Từ Phúc ra đi.

Tháng ngày trôi qua, Thủy hoàng đợi mãi mà Từ Phúc vẫn chẳng bóng chim tăm cá. Truyền thuyết nói rằng, Từ Phúc đã mang các đồng nam, đồng nữ và vật dụng mà Thuỷ hoàng cấp cho, trốn ra đảo để sinh cơ lập nghiệp. Có người nói đảo đó là Nhật Bản, người khác thì cho rằng đảo đó là Đài Loan.


Ảnh: Thuyền của Từ Phúc vượt bể tìm thuốc trường sinh
Câu chuyện kể trên được ghi lại trong rất nhiều tài liệu khác nhau, kể cả “Sử ký” của Tư Mã Thiên, “Tam quốc chí” của Trần Thọ hay các tác phẩm văn học như “Đông Chu liệt quốc”, “Hán Sở tranh hùng”, “Tần Thuỷ hoàng diễn nghĩa”... Nhắc lại câu chuyện đó, chúng tôi không có ý định tìm hiểu coi Từ Phúc đã làm gì với số nhân tài vật lực mà Thuỷ hoàng cấp cho ông, cũng không nhằm xác định xem nơi ông đến là Đài Loan hay Nhật Bản. Chúng tôi chỉ muốn thử lật lại một số vấn đề trong công tác quản lý của những bậc làm vương, làm tướng ngày xưa, mà cụ thể là việc xác định mục tiêu quản lý.

Hẳn những ai đã từng đọc các sách về quản lý đều biết rằng xác định mục tiêu là khâu đầu tiên và quan trọng nhất, quyết định toàn bộ diễn biến của quá trình quản lý. Điều đó có nghĩa rằng quá trình quản lý thành hay bại phụ thuộc trước hết vào việc xác định mục tiêu quản lý đúng hay sai. Lẽ hay hớm ấy tuy rằng đơn giản nhưng thực ra chỉ người đời nay mới có thể hiểu thấu do đã được trang bị các lý thuyết quản lý, còn ngày xửa ngày xưa khi quần hùng trong thiên hạ đua nhau nổi lên giành đất cướp dân thì người ta chỉ cần biết rằng, quản lý nghĩa là quản thế nào cho có , mà cái lý ở những thời dã man, mông muội ấy, không phải là cái gì khác ý chí của những người được “trời trao mệnh lớn”. Tuy nhiên, ý chí của những kẻ “thay trời trị dân” ấy dẫu có khi hay nhưng cũng nhiều lúc rất dở, bởi thế nên việc quản lý của họ cũng có lắm chuyện oái oăm dao găm.

Lịch sử đã chứng minh rằng, sở dĩ nước Tần có thể trở nên hùng mạnh và đánh bại các nước Triệu, Nguỵ, Hàn, Yên, Tề, Sở để thống nhất Trung Hoa là vì người Tần đã có những chính sách tuyệt vời để thu hút nhân tài trong thiên hạ. Nhiều chính khách lừng danh như Vệ Ưởng, Trương Nghi, Phạm Thư, Thái Trạch,... sau khi bôn ba khắp sáu nước nhưng không được trọng dụng thì cuối cùng đã tìm được đất dụng võ ở nước Tần. Tuy nhiên, lịch sử không hề ghi nhận một trường hợp nào các chính khách kể trên đã nói hoặc các vị vua Tần đã được nghe, rằng yêu cầu đặt ra đối với mục tiêu quản lý là phải đảm bảo tính khả thi và phù hợp điều kiện thực tiễn. Chính vì thế nên trong câu chuyện tìm thuốc trường sinh kể trên, chủ thể quản lý là Tần Thuỷ hoàng mới đặt ra cho đối tượng quản lý của mình là Từ Phúc một mục tiêu không tưởng, làm cho hệ thống quản lý vận động chệch hẳn mục tiêu, mà cụ thể là Từ Phúc đã tấu lên Thuỷ hoàng một bản báo cáo láo, rằng “Bệ hạ muốn có thuốc trường sinh tất phải chịu tổn phí, đóng thuyền và cấp hành trang cho hạ thần vượt bể thì mới tìm được”, rồi sau đó mang toàn bộ số người ngợm, của cải được giao chạy một mạch ra đảo, không bao giờ dám quay trở lại. (Bởi nếu quay lại thì chỉ còn nước dùng đít mà đội mũ).

Lại có một câu chuyện khác về người không biết cách quản lý là trường hợp của ông Quan Vũ thời Tam quốc. Sách Tam quốc kể rằng ông này khi đang đem quân Kinh Châu vây đánh Tào Nhân ở Phàn Thành thì thiếu lương, bèn sai sứ về giục hai tướng giữ thành Nam Quận và Công An là My Phương và Phó Sĩ Nhân phải tải ngay mười vạn gánh gạo đến, hễ chậm chạp thì chém lập tức. Quan Vũ không hề biết rằng trong khi ông ta mải miết đánh phá quân Tào thì thành trì quan trọng nhất của ông là Kinh Châu đã bị Đông Ngô chiếm mất, còn Nam Quận và Công An cũng bị Đông Ngô vây chặt, vì vậy việc kiếm một lúc mười vạn gánh gạo để tiếp ứng cho quân sĩ là điều mà hai tướng Phó, My có muốn thì cũng chẳng làm được. Bởi thế nên khi nghe sứ giả truyền đạt mệnh lệnh của Quan Vũ, hai tướng chỉ biết nhìn nhau than thở, cực chẳng đã đành phải chém sứ giả rồi mở cửa thành ra đầu hàng quân Ngô.

Dẫu rằng việc đốc thúc lương thảo của Quan Vũ là hoàn toàn xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn và cũng không thể không làm, bởi lẽ nếu không có lương thảo thì dẫu Tôn Vũ hay Ngô Khởi sống lại cũng chẳng thể ra trận đánh giặc được; tuy nhiên, việc Quan Vũ đặt ra cho các đối tượng quản lý của mình (My Phương và Phó Sĩ Nhân) một mục tiêu quá xa vời (tải ngay mười vạn gánh gạo) với chế tài hết sức ngặt nghèo (hễ chậm chạp thì chém ngay lập tức) trong khi điều kiện khách quan không cho phép (thành trì đã bị chiếm mất) đã đẩy hệ thống quản lý của ông ta vào một tình trạng không thể nào cứu vãn (hai tướng giữ thành tuốt gươm chém sứ giả, rồi ra đầu hàng Đông Ngô). Hành động của My Phương và Phó Sĩ Nhân tuy rằng bị rất nhiều người lên án, và thậm chí sau đó họ còn bị Lưu Bị trừng phạt tàn khắc, nhưng rõ ràng lời họ nói trước khi trở cờ quay giáo về với Đông Ngô có lẽ cũng là một bài học rất quý giá mà những người đã từng làm “sếp” của họ là Quan Vũ và Lưu Bị không thể không suy nghĩ nếu còn muốn tiếp tục làm công tác quản lý khi sang thế giới bên kia: “Quan Công làm như thế, chính là cố ý muốn giết chúng ta, lẽ đâu ta ngồi chắp tay mà chịu chết? Nếu không sớm hàng Đông Ngô, tất không khỏi chết về tay Quan Công”.

Tiếp ngay sau cái chết của Quan Vũ, lịch sử lại được chứng kiến ngay một vụ sai lầm nghiêm trọng không kém trong công tác quản lý của người em kết nghĩa của ông, ấy là Trương Phi. Số là khi được tin Quan Vũ bị Đông Ngô xử chém, Trương Phi nóng ruột báo thù, liền hạ lệnh cho thuộc hạ trong ba ngày phải may đủ cờ trắng và áo giáp trắng để toàn quân mặc đồ tang sang đánh Ngô. Hai tướng dưới quyền là Phạm Cương, Trương Đạt vào xin Trương Phi cho gia hạn thêm thời gian vì không thể may kịp đủ cờ trắng, giáp trắng cùng một lúc cho mấy vạn quân thì bị ông ta nổi giận quát võ sĩ trói vào gốc cây, đánh mỗi người năm chục roi, đánh xong còn đe giết hai người nếu ngày hôm sau không may đủ.

Hai tướng Phạm, Trương phải đòn đau quá, hộc cả máu ra đằng miệng, trở về dinh bàn chuyện với nhau. Phạm Cương nói: “Hôm nay ta phải đòn thế này, còn ngày mai nữa thì biện làm sao cho kịp? Người ấy tính nóng như lửa, nếu ngày mai không xong, chúng ta cũng khó toàn mạng”. Trong cái khó ló cái liều, Trương Đạt đề xuất: “Để cho hắn giết ta, chẳng thà ta giết hắn trước đi cho rảnh”. Thế là ngay trong đêm đấy, Trương Phi, anh hùng lừng lẫy một thời, người được Quan Vũ miêu tả là “có thể ở trong đám quân trăm vạn lấy đầu thượng tướng dễ như lấy vật gì trong túi”, bị hai đứa vô danh tiểu tốt là Phạm Cương và Trương Đạt cắt đầu đem nộp cho Đông Ngô. Nguyên nhân cái chết lãng xẹt của Trương Phi, không phải ở đâu xa, mà cũng chính là vì ông ta đã sai lầm trong việc xác định mục tiêu quản lý, từ đó mà đưa ra những quyết định quản lý xa rời thực tiễn, dẫn đến việc trả giá bằng chính mạng sống của mình...


Ảnh: Ăn chơi mà không sợ mưa rơi thì tránh làm sao cho khỏi ướt?
Còn rất nhiều câu chuyện như thế được sử sách ghi lại, mỗi câu chuyện có một tình tiết riêng và xuất hiện trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau, nhưng đều có chung một điểm giống nhau là người quản lý xác định mục tiêu không phù hợp với điều kiện khách quan, dẫn đến hệ thống quản lý của họ buộc phải vừa vận động vừa chổng mông vào quy luật. Trong các câu chuyện kể trên, tuy mức độ thiệt hại của Quan Vũ, Trương Phi hay Tần Thuỷ hoàng... là không giống nhau, nhưng nói chung, cái giá mà họ phải trả cho việc xác định sai mục tiêu quản lý đều rất thê thảm, cho dù cái giá đó là mất đất, mất của hay mất người.

Thế cho nên, trước khi có ý định làm gì với nguồn lực của mình, cho dù đó là nhân, tài hay vật lực, xin hãy nhớ rằng, nếu ý định đó không phù hợp với điều kiện thực tiễn thì cái giá phải trả hẳn sẽ là không rẻ. Ăn chơi mà không tính đến việc mưa rơi thì chuyện bị ướt cũng khó mà tránh khỏi vậy!

Xem thêm: Thị trường mục tiêu của người ăn mày

Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2013

Lặng lẽ nơi này

​​
Đã có một thời, kinh doanh bất động sản là một ngành ăn nên làm ra. Sự phát đạt của ngành này lớn đến nỗi không chỉ người người, nhà nhà mà cả ngành ngành đều đua nhau lao vào như con thiêu thân: Điện lực làm bất động sản, Dầu khí làm bất động sản, Cao su làm bất động sản, Đóng tàu cũng làm bất động sản,... và đi kèm với đó là một lượng vốn khổng lồ từ các tổ chức tín dụng được rót vào các dự án bất động sản, trong đó chủ yếu là dự án nhà ở.

Vào những năm tháng huy hoàng nhất của ngành bất động sản, ở đâu, lúc nào người ta cũng nói về bất động sản. Cá nhân phải tìm cách mua cho được một vài căn hộ để đầu cơ; doanh nghiệp chạy chọt kiếm cho được một miếng đất để xây chung cư; còn ngân hàng thì rất sẵn lòng cho vay để đầu tư bất động sản hoặc nhận thế chấp bằng bất động sản. Nhiều người đã phất lên rất nhanh nhờ bất động sản, và những người khác chưa kịp giàu lên thì cũng ôm mộng tưởng đổi đời nay mai... Lý sự của những người này là hoàn toàn dễ hiểu và có thể chấp nhận được, bởi theo lẽ thông thường, người thì vẫn còn tiếp tục đẻ trong lúc đất thì đã đặt vòng, nghĩa là không thể nào đẻ được nữa!

Nếu ai đó chăm đọc văn học phương Tây thì sẽ thấy, trong những năm tháng tươi đẹp đó, các doanh nghiệp bất động sản giống như những chàng trai hào hoa, còn ngân hàng giống như những thiếu nữ yêu kiều thường được miêu tả nhiều trong tiểu thuyết của Tây Ban Nha hay của Pháp. Chỉ có điều, các giai-nhân-ngân-hàng lại tỏ ra khá dễ xiêu lòng trước những lời đề nghị qhtd (quan hệ tín dụng) đầy bay bướm của các tài-tử-bất-động-sản, thậm chí có không ít giai-nhân đã không ngần ngại chạy theo để ve vãn các tài-tử, giống như Thuý Kiều đã vượt qua nẻo thông mới rào ở cuối tường để đến với Kim Trọng.

Và hôm nay, khi thị trường bất động sản bị đóng băng và các dự án bất động sản rơi vào bế tắc không có lối ra, thì các ngân hàng phải ôm lấy một đống nợ xấu khổng lồ mà theo ước tính của một ông Tây mũi lõ có tên John Sheehan, là khoảng 5,36 tỷ đô la (tương đương khoảng 112.500 tỷ đồng), gấp 4 lần so với con số 1,34 tỷ đô la đã được công bố. Đống nợ xấu bất động sản mà các ngân hàng đang ôm, vào lúc này, chẳng khác nào cái bụng bầu của các tài tử đã để lại cho các giai nhân sau những ái tình vội vã mà muốn phá đi cũng không được, để đẻ cũng không xong.

Lý giải về tình trạng dở mếu dở cười hiện nay của các giai-nhân-ngân-hàng, giới chuyên gia mắt cận trán hói cho rằng, sở dĩ các ngân hàng phải ôm cái-bụng-bầu của ngành bất động sản để lại là vì đã có sự sai lệch quá lớn trong quan hệ cung cầu về nhà ở (do các sản phẩm nhà ở hạng sang được tung ra quá nhiều so với thu nhập eo hẹp của người cần nhà ở) cũng như trong kì vọng của giới buôn đất (tức là lúc nào họ cũng đinh ninh giá đất chỉ có tăng, chứ không giảm).

Đương nhiên, chẳng có gì cần phải bàn về lý giải nói trên, bởi các chuyên gia đã không hề sai khi nhận định về nguyên nhân đóng băng của thị trường bất động sản. Tuy nhiên, nếu như ông Tây mũi lõ John Sheehan cho rằng cần có sự can thiệp của Chính phủ vào việc giải quyết các khoản nợ xấu bất động sản hiện nay, thì các chuyên gia mũi tẹt lại quả quyết, với quy mô nợ xấu bất động sản như trên, Nhà nước không đủ khả năng để giải cứu, kể cả nếu muốn. Thậm chí có chuyên gia còn cho rằng cần có “sự huỷ diệt tích cực” như một điều kiện bắt buộc để giải quyết khối nợ xấu trong lĩnh vực bất động sản, nghĩa là những dự án bất động sản định hướng sai phân khúc thị trường sẽ buộc phải tự trả giá mà không ai có khả năng cứu, và một “sự huỷ diệt tích cực” là cách tốt nhất để loại bỏ các doanh nghiệp yếu kém và chuyển nguồn lực sang các doanh nghiệp có hiệu quả, qua đó giải quyết nợ xấu một cách bền vững...

Đề xuất về “sự huỷ diệt” của giới chuyên gia thoạt nghe thì có vẻ rất ổn, và cũng đã nhận được khá nhiều sự đồng tình. Chỉ có điều, nếu các chuyên gia đã từng đưa bạn gái đi phá thai thì sẽ biết, chẳng bác sỹ có đạo đức nào lại chấp nhận việc làm đó khi cái thai đã quá to. Thế cho nên, cả giai-nhân, cả tài-tử, rồi thì chắc cũng phải ngồi mà nghe họ Trịnh rên rỉ:

“Tình yêu vô tội
Để lại cho ai
Buồn như giọt máu
Lặng lẽ nơi này...”

Lưu ý:
1. Bài viết chỉ mang tính chất giải trí, không thể hiện quan điểm của anh về kinh tế học.
2. Xem thêm các bài báo liên quan:
- Nợ xấu bất động sản, phải có sự can thiệp của Chính phủ
- Xử lý nợ xấu trong lĩnh vực bất động sản: Cần có “sự hủy diệt tích cực”.

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2011

Phỏng vấn một nhà sử học


A Solitaire: - Xin chào Giáo sư! Con đường nào đã đưa Giáo sư đến với lịch sử?

Nhà sử học: - Nếu tôi nhớ không nhầm thì là Nguyễn Trãi

A Solitaire: - Thật sao, thưa Giáo sư? Chính Nguyễn Trãi là người đưa Giáo sư đến với lịch sử???

Nhà sử học: - Không, ngày xưa tôi học ở trường Tổng hợp. Mỗi ngày đến lớp đều phải đi qua đường Nguyễn Trãi[1].

A Solitaire: - Ồ, Giáo sư là một người rất vui tính. Ý tôi là bằng cách nào mà Giáo sư lại trở thành một người nghiên cứu lịch sử?

Nhà sử học: - Bằng cách thi trượt đại học, anh ạ.

A Solitaire: - ???

Nhà sử học: - Người ta đã chuyển tôi sang khoa Sử do tôi không đủ điểm đỗ vào khoa Toán trường Tổng hợp.

A Solitaire: - À ra thế! Giáo sư nghiên cứu lịch sử nước nào?

Nhà sử học: - Việt Nam, tất nhiên.

A Solitaire: - Tôi hiểu. Giáo sư là một người yêu lịch sử dân tộc...

Nhà sử học: - Chứ yêu lịch sử nước ngoài thì lại phải học ngoại ngữ, mệt lắm anh ạ.

A Solitaire: - Lĩnh vực nghiên cứu chính của Giáo sư là gì?

Nhà sử học: - Cái gì cũng nghiên cứu. Nhưng tôi thường nghiên cứu nhiều về lịch sử kinh tế.

A Solitaire: - Điều gì làm Giáo sư quan tâm đến lịch sử kinh tế?

Nhà sử học: - Cho nó hợp thời anh ạ.

A Solitaire: - ???

Nhà sử học: - Giống như nhà báo thích viết phóng sự kinh tế hay cảnh sát thích phá án kinh tế, nhà sử học cũng thích nghiên cứu lịch sử kinh tế.

A Solitaire: - À, ra thế. Và Giáo sư đã có những công trình nghiên cứu lớn nào về lịch sử kinh tế Việt Nam?

Nhà sử học: - Lớn thì người ta nghiên cứu hết rồi. Tôi chỉ thực hiện những công trình nho nhỏ.

A Solitaire: - Và nhà kinh tế nào của Việt Nam được Giáo sư nghiên cứu nhiều nhất?

Nhà sử học: - Chúa Chổm!

A Solitaire: - ???

Nhà sử học: - Anh biết Chúa Chổm chứ? Ngài là một nhà kinh tế tài ba trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng.

A Solitaire: - Tôi chưa hiểu. Giáo sư có thể giải thích rõ hơn?

Nhà sử học: - Không cần phương án sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng, không có tài sản thế chấp hay vốn đối ứng, ngài vẫn có thể vay được một số tiền khổng lồ. Điều này chưa từng xảy ra trong lịch sử bất kỳ một nước nào.

A Solitaire: - Bất kỳ một nước nào ư, thưa Giáo sư?

Nhà sử học: - Đúng thế, bất kỳ một nước nào!

A Solitaire: - Làm sao Giáo sư có thể khẳng định điều đó khi Giáo sư chỉ nghiên cứu lịch sử Việt Nam mà không hề nghiên cứu lịch sử các nước khác?

Nhà sử học: - À, cái này thì chỉ cần làm một phép suy luận rất đơn giản. Nếu đã từng có một ai đó được cấp hạn mức tín dụng cao hơn thì hẳn người ta đã không nói “nợ như Chúa Chổm”.

A Solitaire: - Ồ, quả là một phát hiện vô cùng thú vị! Nhưng kết quả nghiên cứu về Chúa Chổm có giá trị lý luận và thực tiễn như thế nào, thưa Giáo sư?

Nhà sử học: - Rất ý nghĩa đấy, anh thấy không? Chưa cần đề cập vấn đề lý luận, chỉ cần xét đến việc tỷ lệ tăng trưởng tín dụng bị khống chế ở mức 20% và các doanh nghiệp không tài nào tiếp cận được với nguồn vốn của ngân hàng như hiện nay, thì những kinh nghiệm của Chúa Chổm có thể được coi là lối thoát để các doanh nghiệp không bị đẩy đến bên bờ vực phá sản do thiếu vốn. Đấy không phải là những giá trị thực tiễn vô cùng to lớn ư?

A Solitaire: - Ồ, đúng thế! Rất cám ơn Giáo sư về buổi trò chuyện hữu ích và thú vị này. Và xin chúc ông sẽ gặt hái được nhiều thành công hơn với những công trình nghiên cứu của mình!

-----
[1] ĐH Tổng hợp Hà Nội (nay là ĐH Khoa học tự nhiên và ĐH Khoa học xã hội và nhân văn) nằm trên đường Nguyễn Trãi

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2009

Kinh tế học phúc lợi của uống bia và đi tè


Chương 1
QUY LUẬT LỢI ÍCH CẬN BIÊN GIẢM DẦN

Lợi ích cận biên (Marginal Utility - MU) là một khái niệm dùng để chỉ số đơn vị lợi ích tăng thêm khi tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hoá, dịch vụ. Tỉ dụ, khi tớ uống một cốc bia, tớ cảm thấy việc uống bia có thể mang lại cho tớ 5 đơn vị lợi ích, và MU của cốc bia thứ nhất là 5; uống thêm một cốc, tớ cảm nhận được lợi ích việc uống bia là 8, MU của cốc thứ hai là 3 = 8 - 5; uống thêm một cốc nữa, tớ cảm nhận được lợi ích của bia là 10, MU của cốc thứ ba là 2 = 10 - 8... Tớ càng uống, MU mà cốc bia uống thêm mang lại cho tớ càng giảm, và cho đến khi MU bằng không hoặc nhỏ hơn không, mọi người có thể hiểu là tớ bị say bia. Khi đó, cho dù tớ rất cao thì người khác vẫn phải cúi xuống nhìn (vì tớ đã nằm bẹp như một con gián)…

Hiện tượng như trên đã được hai nhà kinh tế học nổi tiếng là Paul Samuelson và David Begg cùng nghiên cứu trong một lần đi uống bia. Tại thời điểm đó, Samuelson và Begg nhận thấy nếu họ càng uống thêm nhiều bia thì lợi ích cận biên của cốc bia mà họ uống thêm càng giảm xuống. Về sau, các nhà kinh tế học đã mở rộng phạm vi nghiên cứu đối với việc tiêu dùng các loại hàng hoá, dịch vụ khác và rút ra quy luật - gọi là quy luật lợi ích cận biên giảm dần. Quy luật này không còn xa lạ gì với những người học kinh tế, ai không tin thì lấy quyển Microeconomics của P. Samuelson hay Economics của D. Begg ra mà coi.


Chương 2
NHU CẦU VÀ SỰ THOẢ MÃN NHU CẦU ĐI TÈ

Như một lẽ bình thường của cuộc sống, khi uống bia vào, bao giờ người ta cũng có nhu cầu đi tè; càng uống nhiều bia thì nhu cầu đi tè càng tăng. Và các nhà kinh tế học đã sử dụng một đại lượng kinh tế là nhu cầu đi tè cận biên (Marginal Need of making water - MN) để phản ánh số đơn vị tăng thêm của nhu cầu đi tè khi uống thêm một đơn vị bia. Mối quan hệ giữa số lượng bia và MN được minh hoạ qua ví dụ sau:

Giả sử khi David Begg uống 1 cốc bia, ông ta có nhu cầu đi tè là 3 đơn vị, và MN của cốc bia thứ nhất là 3. Nếu Begg uống 2 cốc bia, nhu cầu đi tè của ông ta tăng lên 10 đơn vị, MN của cốc bia thứ hai là 7 = 10 - 3; uống 3 cốc bia, nhu cầu đi tè tăng lên 25 đơn vị, MN của cốc bia thứ ba là 15 = 25 - 10... Cứ như thế, ông ta càng uống, MN của cốc bia uống thêm càng tăng lên. (Và khi MN đạt cực đại, Begg sẽ buộc phải ca cái bài của All-4-one rất nổi tiếng trong những năm 1990s - “Ai xoè”). Từ đó, David Begg kết luận rằng, càng uống thêm bia thì nhu cầu đi tè cận biên của cốc bia được uống thêm càng tăng…

Lại như một lẽ bình thường khác của cuộc sống, một khi nhu cầu đi tè được giải quyết (nghĩa là ca xong bài “Ai xoè”) thì người ta bao giờ cũng đạt được một sự thoả mãn nhất định; nhu cầu đi tè càng lớn thì sự thoả mãn của người đi tè càng cao. Để nghiên cứu sự thoả mãn của người uống bia khi đi tè, các nhà kinh tế học lại sử dụng một đại lượng khác gọi là sự thoả mãn cận biên của đi tè (Marginal Satisfactory of making water - MS), được xác định bằng độ thoả mãn tăng thêm của việc đi tè khi uống thêm một đơn vị bia. Bằng nhiều nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế học chứng minh được rằng, khi số đơn vị bia tiêu thụ tăng thêm thì MS biến thiên cùng chiều với MN (và ngược chiều với MU); hay nói cách khác, càng uống thêm bia thì sự thoả mãn cận biên khi đi tè của cốc bia uống thêm càng tăng.


Chương 3
KINH TẾ HỌC PHÚC LỢI CỦA UỐNG BIA VÀ ĐI TÈ

Cho dù trong các cặp phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng không hề có cặp phạm trù uống bia - đi tè, song tớ cho rằng giữa uống bia và đi tè luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó uống bia là nguyên nhân, còn đi tè là kết quả; do đó việc giải quyết mối quan hệ giữa uống bia và đi tè cần phải được thực hiện một cách biện chứng và tuân theo quy luật khách quan.

Từ những quy luật kinh tế học được nghiên cứu ở Chương 1 và Chương 2, chúng ta có thể thấy rằng, mặc dù lợi ích cận biên của việc uống bia luôn giảm dần nhưng rõ ràng là càng uống thêm bia thì sự thoả mãn khi đi tè của người uống bia càng tăng, và việc giải quyết nhu cầu đi tè của người uống bia, trên phương diện nào đó, cũng chính là làm tăng phúc lợi xã hội.

Vấn đề đặt ra là hiện nay có quá ít quán bia xây dựng được nơi đi tè (WC) đạt tiêu chuẩn, thậm chí một số quán bia còn để cho khách hàng đi tè không đúng nơi quy định, không những làm giảm sự thoả mãn của người uống bia, mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh quan và môi trường đô thị. Do đó, việc xây dựng các WC đạt tiêu chuẩn cho các quán bia cần phải được các cấp quản lý và các nhà sản xuất bia hết sức quan tâm và có sự đầu tư thoả đáng ngay từ hôm nay.

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2009

Thị trường mục tiêu của người ăn mày


Trước cửa Khách sạn Sông Trà ở Quảng Ngãi, người ta đặt một cái máy rút tiền tự động (ATM) của Vietcombank. Bên cạnh máy rút tiền, một người ăn mày tự quy hoạch cho mình một chốn làm ăn với những phương tiện hành nghề cơ bản nhất được đầu tư là gậy, nón rách và ống bơ.

Đối với nghề ăn mày, thị trường mục tiêu cần hướng tới là những người vừa (i) có nhiều tiền (lẻ) vừa (ii) giàu lòng trắc ẩn. Ở khía cạnh sau của vấn đề, người ăn mày hoàn toàn đi đúng hướng trong chiến lược thị trường của mình, bởi Việt Nam nổi tiếng khắp thế giới là đất nước của những con người nhân hậu. Song ở khía cạnh thứ nhất, ông ta đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng khi quên mất rằng ATM của Vietcombank chỉ chấp nhận số tiền rút tối thiểu mỗi lần là một tờ 50K, trong khi đó, cũng ở ngay tại cái xứ An Nam này, chẳng có (hoặc nếu có thì cũng rất hiếm) người nào coi tờ 50K là tiền lẻ.

Thử làm một phép toán đơn giản, nếu ký hiệu A1 là tập hợp những người thoả mãn điều kiện (i), A2 là tập hợp những người thoả mãn điều kiện (ii), còn A – được xác định bằng giao của A1 và A2 – là thị trường mục tiêu của người ăn mày, ta hoàn toàn có thể dễ dàng chứng minh được rằng A không chứa phần tử nào, bởi một khi đã coi A1tập rỗng (vì chẳng ai coi 50K là tiền lẻ) thì cho dù A2 có chứa đến 84 triệu phần tử (tương đương với số dân cả nước Việt Nam) cũng không thể biến A thành cái gì khác ngoài một tập rỗng. Điều đó cũng có nghĩa là người ăn mày ở trước cửa Khách sạn Sông Trà đã tự xác định cho mình một thị trường mục tiêu mà trong đó không có một khách hàng nào cả – nếu như coi mỗi người bố thí cho ông ta sau khi rút tiền ở ATM của Vietcombank là một khách hàng.

Lẽ đương nhiên, một khi khách giao dịch ở ATM chỉ có trong ví toàn tiền chẵn (từ 50K trở lên) thì cho dù người ăn mày có suốt ngày lạy ông đi qua, lạy bà đi lại, cũng chẳng ai bố thí cho ông ta lấy một đồng. Và kết cục bi thảm của người ăn mày coi như đã được nhìn thấy trước.

Thế thì, bài học nào nên được rút ra ở đây? Hỡi các doanh nhân, nếu bạn sai lầm trong việc xác định thị trường mục tiêu thì mọi nỗ lực kinh doanh của bạn đều trở nên vô ích. Xác định sai thị trường mục tiêu cũng đồng nghĩa với việc bạn tự tay đào mồ chôn doanh nghiệp của mình rồi!

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2009

A conference on credit risk management


Yesterday I happened to attend a conference on institutional capacity development for development finance in Vietnam held by Japan International Cooperation Agency (JICA), Japan Economic Research Institute (JERI) and Vietnam Development Bank (VDB).

At the conference, we were lectured by experts from JICA, JERI and DBJ (Development Bank of Japan) about credit risk management experiences of DBJ and what VDB should do to manage its credit risk. The lectures were supposed to be presented in English but I am not sure that what I heard was English. Japanese experts spoke something like a mixture of English and Japanese which included English expressions and Japanese pronunciation and intonation. I just could hear something sounded like Ajinomoto or Ohio or Hashimoto... and so on. What made me amaze and admire most was that the interpreter, a Ms Linh from The State Bank of Vietnam (SBV), could interpret fluently all words that experts said, whatever English or Japanese. And I suppose that even if experts used Martian language, she could also interpret what they spoke into Vietnamese easily, as long as she had Vietnamese version of the lecture.

Having attended that conference, I am now totally confident that on a beautiful day when Laos and Cambodia establish their own development bank, I will probably have chance to be the expert from VDB who comes to lecture on institutional capacity development for development finance in Laos and Cambodia, and I will speak the so-called English I heard yesterday to give lectures to staffs of Laos and Cambodia's development banks, as I was lectured by Japanese experts.

Thứ Năm, 12 tháng 2, 2009

Ngưỡng kỹ thuật của giá vàng??



Nguồn: www.kitco.com

1. Hôm nay, giá vàng thế giới đã có lúc lên đến 940 USD/ounce, vượt xa ngưỡng kỹ thuật 935 USD/ounce mà theo dự báo của các chuyên gia, nếu vượt qua được ngưỡng này thì giá vàng thế giới sẽ dễ dàng chạm mốc 1.000 USD/ounce. Ở trong nước, Công ty SJC công bố giá mua vào bán ra hồi 13h trưa nay là 19,37 – 19,46 triệu đồng/lượng. Và với cái đà tăng ầm ầm của giá vàng thế giới như hiện nay, kẻ nào nắm trong tay 1.000 lượng vàng (nôm na là… ngàn vàng) thì việc sở hữu 20 tỷ là không có gì phải bàn cãi, vì giá vàng trong nước sẽ chạm đến 20 triệu đồng/lượng trong vài ngày tới…

2. Hồi tớ còn bé tí, suốt ngày tớ bị bế đi chơi khắp làng trên xóm dưới trong trạng thái nửa kín nửa hở mà đến bây giờ tớ dám chắc là không ai trong số những người đọc được entry này dám làm; vậy là già trẻ gái trai, nam phụ lão ấu tha hồ mà nghịch, mà nựng, mà cấu, mà véo, mà cắn… Thôi xong, thế là ngàn vàng của tớ khi không lại bị mất toi chỉ vì những việc chẳng đâu vào đâu.

3. Bây giờ nghĩ lại, tớ thấy tiếc ơi là tiếc. Giá mà hồi ấy bố mẹ cho tớ cấm cung suốt ngày thì có phải bây giờ tớ đã có trong tay 20 tỷ rồi không? Với đồng lương còm cõi mà Ngân hàng trả cho con mỗi tháng như hiện nay, đến bao giờ con mới kiếm được số tiền mơ ước đó? Bố mẹ có hiểu cho con không?

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2008

Đánh cái sung sướng


Hôm nay mát giời lại rỗi việc, anh có dịp lườm qua cái Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) vừa được ban hành (ngày 14/11/2008). Đọc đến Điều 6, anh mới tá hoả lên khi phát hiện ra Nhà nước quy định giá tính thuế TTĐB đối với kinh doanh vũ trường, mát-xa, ka-ra-ô-kê là doanh thu của các hoạt động kinh doanh trong vũ trường, cơ sở kinh doanh mát-xa, ka-ra-ô-kê (xem điểm c, khoản 5, Điều 6 Luật Thuế TTĐB).

Mới đọc qua, nếu không để ý, mọi người sẽ nghĩ quy định này không có gì đặc biệt vì rằng việc Nhà nước oánh thuế vào một hành vi nào đó cũng là điều bình thường, bởi oánh thuế là đặc trưng cơ bản của Nhà nước, và đương nhiên cái việc đi nhảy nhót trong vũ trường, đi mát-xa hay hát ka-ra-ô-kê… bị Nhà nước oánh thuế cũng là điều không có gì phải thắc mắc.

Tuy nhiên, điều làm anh hốt hoảng nằm ở chỗ anh là một thằng có máu văn hoá văn nghệ, trong khi đó thuế TTĐB của Nhà nước thì không chỉ oánh vào cái hành vi chủ yếu (đấm đá, hát hò, nhảy nhót...) mà còn oánh vào tất tần tật những hành vi liên quan làm phát sinh doanh thu của các cơ sở kinh doanh vũ trường, mát-xa, ka-ra-ô-kê.

Để mọi người dễ hình dung, anh lấy một ví dụ minh hoạ thường gặp nhất là ka-ra-ô-kê, vì cái món này là một phần tất yếu của anh - một giọng baritone luôn tán đồng và cổ suý cho quan điểm “hát hay không bằng hay hát”.

Kinh doanh ka-ra-ô-kê, với hoạt động nguyên thuỷ và chủ yếu nhất của nó, là cho khách hàng thuê phòng hát và thu tiền. Tuy nhiên, chẳng ai đi hát ka-ra-ô-kê mà chỉ hát suông rồi về, mà bên cạnh cái việc hát hò, còn phát sinh bao nhiêu là hoạt động liên quan: uống nước, uống bia, uống rượu, hút thuốc... vân vân và vân vân. Thậm chí tại một số cơ sở kinh doanh năng động, thượng đế - khách hàng còn có thể được cung cấp các dịch vụ trọn gói từ A tới Z cho đến lúc nào cảm nhận được “cuộc sống đích thực” mới thôi. Nhưng để cho việc theo dõi của mọi người được... đại tiện, anh chỉ làm một bài toán đơn giản như thế này:

Giả sử anh có một cái công cuộc hát hò với các hàng hoá, dịch vụ ăn theo giản dị và chân phương nhất là bia, rượu và thuốc lá. (Đương nhiên là mấy cái thứ “giản dị và chân phương” này cũng bị Nhà nước oánh thuế TTĐB với thuế suất ù tai hoa mắt chứ chẳng tha: bia - 45%, rượu - 45%, thuốc lá - 65%; còn ka-ra-ô-kê, vì ít “độc hại” hơn, nên chỉ bị Nhà nước oánh thuế TTĐB ở mức 30% - xem Điều 7 Luật Thuế TTĐB). Nếu tiêu dùng từng thứ hàng hoá, dịch vụ này một cách riêng rẽ, thì hoá đơn mà anh phải thanh toán sẽ có nội dung như cái biểu dưới đây (số liệu chỉ mang tính ước lệ):



Như vậy, nếu oánh thuế riêng rẽ vào từng loại hàng hoá, dịch vụ liệt kê trên cái hoá đơn kia thì trong số 1 triệu đồng mà anh bỏ ra, mấy ông kinh doanh bia, rượu, thuốc lá và ka-ra-ô-kê sẽ được hưởng 713.126 đồng, còn lại 286.874 đồng sẽ phải nộp thuế TTĐB cho Nhà nước (trong đó nộp cho hát ka-ra-ô-kê là 92.308 đồng, nộp cho bia, rượu và thuốc lá là 93.103 + 62.069 + 39.394 = 194.566 đồng). Tuy nhiên, do cái Điều 6 và Điều 7 kể trên của Luật Thuế TTĐB, mà sự phân chia quyền lợi và nghĩa vụ giữa anh - Nhà nước - cơ sở kinh doanh ka-ra-ô-kê sẽ được thực hiện như sau:



Cái biểu trên cho thấy, thay vì ngồi ở quán bia để uống bia và phải trả 300.000 đồng, ngồi ở quán rượu để uống rượu và phải trả 200.000 đồng, ngồi ở quán nước vỉa hè để hút thuốc (vì anh chẳng thấy ở đâu có cái quán gọi là “quán thuốc” cả) và phải trả 100.000 đồng (tổng cộng là 600.000 đồng, trong đó có 194.566 đồng thuế TTĐB), nếu anh mua mấy cái thứ đó ở quán ka-ra-ô-kê để xài trong lúc hát hò thì anh sẽ phải mất thêm 180.000 đồng nữa, trong đó 90.000 đồng cho bia, 60.000 đồng cho rượu và 30.000 đồng cho thuốc lá (tổng cộng số thuế TTĐB mà anh phải chịu cho mấy cái hàng hoá đi kèm này là 194.566 + 180.000 = 374.566 đồng).

Thực ra phép tính này mới chỉ là thực hiện trên các giả định lý thuyết, còn trong thực tế thì chẳng thằng ka-ra-ô-kê dở hơi nào lại chấp nhận bán bia, rượu, thuốc lá cho anh với cái giá như trên (vì rằng nếu bán với giá đó thì công nó đi mua bia, rượu, thuốc lá về để bán lại hoá ra là công cốc). Anh lại giả định rằng cứ mỗi loại hàng hoá bán kèm đó, thằng ka-ra-ô-kê chén thêm 10% nữa (đấy là vớ phải mấy thằng còn có chút lương tâm, chứ bọn vô lương tâm thì có khi còn chén dã man hơn thế), và thế là kết quả của công cuộc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ của bọn anh lại an bài như sau:



Như vậy, số tiền anh phải mất thêm cho cái sự sung sướng của anh (uống và hút/hít trong lúc hát ka-ra-ô-kê) sẽ là 258.000 đồng, trong đó 60.000 đồng là cái khoản 10% bị thằng ka-ra-ô-kê chén thêm như đã nói ở trên, 198.000 đồng là thuế TTĐB phải chịu vì “can tội” vừa hát vừa uống vừa hút/hít. Và với cái quy định theo kiểu “thuế oánh chồng lên thuế” như trên, Nhà nước thu được của anh 194.566 + 198.000 = 392.566 đồng thuế TTĐB, cao hơn gấp đôi số tiền thu được nếu oánh thuế TTĐB riêng rẽ lên từng loại hàng hoá, dịch vụ.

Thế đấy, chỉ vì không trì hoãn được cái sự sung sướng mà anh phải mất toi thêm 198.000 đồng (mà nếu tính đủ là phải mất thêm tận 258.000 đồng). Giả dụ bình quân mỗi tháng anh làm 1 cuộc hát hò như trên, thì số tiền mà anh phải chịu thêm cho cái sự sung sướng của anh mỗi năm sẽ lên đến 12 x 258.000 = 3.096.000 đồng (trong đó có 2.376.000 đồng thuế TTĐB).

Trong số 80 triệu con dân đất Việt này, có biết bao nhiêu là đứa đú đởn như anh. Làm một phép tính nhẩm, cứ cho là chỉ có khoảng 1% dân số cả nước có máu đú đởn giống anh và mỗi lần đú đởn cũng chỉ tiêu một số tiền ít ỏi như anh, thì mỗi năm, chỉ riêng cái khoản thuế TTĐB oánh vào các hàng hoá, dịch vụ đi kèm với hát ka-ra-ô-kê, Nhà nước cũng thu được 1.900,800 tỷ đồng; còn nếu tính trên toàn bộ doanh thu của hoạt động kinh doanh ka-ra-ô-kê, Nhà nước thu được 2.786,957 tỷ đồng thuế TTĐB (cũng ra vấn đề đấy chứ nhỉ?).

Đối với Nhà nước, những con số nói trên là bằng chứng rất hùng hồn về sự thành công của việc sử dụng công cụ thuế TTĐB để điều tiết hành vi sản xuất và tiêu dùng của doanh nghiệp và người dân cũng như để tăng thu cho ngân sách. Nhưng đối với những người chịu thuế, thì số tiền nói trên chẳng thể gọi là gì khác ngoài sự trì hoãn cái sung, cái sướng, nghĩa là chẳng hề dễ chịu chút nào.

Thế mới biết, có nhiều thứ, nhìn bề ngoài thì có vẻ là sung sướng nhưng đến khi bập vào mới thấy cũng chẳng sướng sung gì. Haizzzz...

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2008

Chí Phèo chửi như thế nào? (hay Lối thoát nào cho tiếng chửi của Chí Phèo?)


“Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu hắn chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ “chắc nó trừ mình ra!”. Không ai lên tiếng cả...”

Hình ảnh ban đầu của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên đã được Nam Cao phác hoạ như vậy đó - toàn chửi là chửi, và trong suốt cả truyện, Chí Phèo cũng bị Nam Cao bắt phải chửi đi chửi lại rất nhiều lần, chửi luôn mồm không ngừng nghỉ: “Hắn chửi trời và đời. Hắn chửi cả làng Vũ Đại. Hắn chửi tất cả những đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng mặc, ai mà hoài hơi, tức mình hắn chửi đứa nào đẻ ra chính hắn, lại càng không ai cần! Và hắn lấy thế làm ức lắm; bởi vì người ta không thể chửi nhau một mình; chửi nhau một mình thì còn văn vẻ gì!”.

Tuy nhiên, từ đầu đến cuối truyện ngắn “Chí Phèo”, ngoại trừ cái câu “Mẹ kiếp!” được đôi lần nhắc đến khi Chí Phèo chửi đổng (chửi chả nhằm vào ai cả một cách có chủ đích), Nam Cao toàn dùng câu gián tiếp (indirect speech) mỗi khi nói về cái sự chửi của Chí, thành ra người đọc chỉ biết là Chí đã chửi, chửi rất nhiều, nhưng cụ thể hắn chửi như thế nào thì chẳng ai biết cả.

Nếu ai đó đã từng xem phim “Làng Vũ Đại ngày ấy” thì còn có dịp nghe Chí Phèo chửi: Mẹ cha con đĩ dại! Mẹ cha thằng dê già! Cha mấy đời con đĩ Nở... vân vân và vân vân. Nhưng “Làng Vũ Đại ngày ấy” không phải là “Chí Phèo”, và người viết kịch bản cho “Làng Vũ Đại ngày ấy” cũng không phải là Nam Cao, vì vậy những câu chửi đấy không đủ độ tin cậy (và cũng không xác đáng) để được bàn luận ở đây bởi trong bài viết này, chúng ta chỉ xem xét nguyên bản của nhân vật trong tác phẩm của Nam Cao mà thôi; vả lại, những câu chửi của Chí Phèo trong “Làng Vũ Đại ngày ấy” cũng rất vô lý và vô lối, do đó chúng không thể là lời giải cho bài toán được đặt ra ở tiêu đề bài viết. Nhưng thôi, cái chuyện đó để lát nữa bàn sau, việc trước mắt là phải tìm cho ra xem Chí Phèo đã chửi như thế nào. Lấy tỉ dụ việc Chí Phèo chửi làng Vũ Đại nhé, mọi người bảo Chí Phèo sẽ chửi làng Vũ Đại ra làm sao? “Mẹ cha làng Vũ Đại”, “Tiên sư làng Vũ Đại” (hoặc đại loại như thế) chăng? Điều đó là không thể nào, bởi lẽ:

Thứ nhất, chửi như vậy là chửi những cái kẻ đẻ ra làng Vũ Đại (mẹ, cha, tiên sư, tam tứ đại...) chứ có phải chửi làng Vũ Đại đâu! Và cái việc Chí chửi không nhằm vào làng Vũ Đại tất yếu sẽ đưa Chí đến chỗ bế tắc mà chúng ta đều biết: cả làng Vũ Đại không ai lên tiếng cả.

Thứ hai, một người học rộng hiểu nhiều như Nam Cao không thể không biết cái đạo lý ở đời rằng người ta chửi nhau là phải chửi... nhau, không được chửi nhằm vào người khác. Đến những kẻ hạ đẳng như Ba Giai và cô bán vải ở chợ Đồng Xuân khi mở hội thi chửi còn quy ước với nhau như thế, lẽ nào Nam Cao lại không biết? Mà đã biết thì ông ta không thể để cho nhân vật của mình chửi một cách vô lý và vô lối như đã nói ở phần trên được.

Vậy thì, Chí Phèo chửi làng Vũ Đại như thế nào? “Đồ tồi”, “Đồ khốn”, “Đồ mất dậy”... chăng? Mấy câu này nghe có vẻ hợp lý hơn vì chúng nhằm trực tiếp vào đối tượng được ăn chửi (với điều kiện người chửi và người được chửi phải đối mặt với nhau - nói khác là chõ mõm vào nhau), nhưng thói đời nếu rủa ai đó là đồ tồi, đồ khốn, đồ mất dạy... thì cũng chẳng khác gì kiến đốt gỗ bởi chửi như vậy thì chẳng bõ bèn gì; hơn nữa nếu Chí Phèo cứ đi lang thang ngoài đường và luôn mồm lảm nhảm “đồ tồi!”, “đồ khốn!”... thì ai mà biết được là Chí đang chửi ai. Và điều đó tất yếu lại dẫn đến hệ luỵ là người bị chửi (cũng như tất cả những người khác) sẽ coi như “nó chừa mình ra”. Mà thực ra những câu chửi kiểu này cũng chỉ mới xuất hiện và được sử dụng phổ biến trong một vài năm trở lại đây (có lẽ là từ sau năm 1986); chưa chắc là ngày đó (tức là giai đoạn 1930-1945) Chí Phèo đã biết dùng đến những ngôn từ “lịch sự” như vậy để chửi (!?)

Thế thì, Chí Phèo đã chửi như thế nào, và đâu là lối thoát cho tiếng chửi của Chí Phèo - chửi thế nào cho khỏi phí rượu? Câu hỏi này may ra chỉ có những người đã từng bị Chí Phèo chửi (đời, trời, làng Vũ Đại, đứa nào đẻ ra Chí Phèo...) hoặc Nam Cao (mà thực ra cũng chính là “đứa đẻ ra Chí Phèo”) mới trả lời nổi. Nhưng than ôi, làm sao tìm được mấy người này mà hỏi cho ra bây giờ? Vậy là toi công chúng ta bàn luận từ nãy đến giờ mà vẫn không tìm ra lối thoát cho tiếng chửi của Chí Phèo. “Mẹ kiếp! Thế có phí rượu không?”

Xem thêm: Văn hoá nói tục

Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2008

Văn hoá nói tục


1. Trước hết tớ phải có ngay mấy nhời giải thích về cái tiêu đề entry, không thì mọi người lại bảo tớ là hàm hồ. Đương nhiên là tớ chả hàm hồ tí nào nếu mọi người công nhận 2 tiên đề dưới đây:

Một là: Văn hoá là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ trong quá trình tồn tại và phát triển… (Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục, H., 1998, trang mấy thì tớ quên béng mất rồi, vì tớ học môn này từ thời sinh viên năm I, nhớ thế cún nào được);

Hai là: Cho dù là vật chất hay tinh thần thì nói tục luôn là “giá trị” gắn liền với con người, do con người “sáng tạo và tích luỹ”, bởi lẽ, chỉ có con người mới biết nói – tục hay hay không tục thì tớ không cần quan tâm.

Thế thôi, từng đó là đủ để cho người cố chấp nhất cũng phải thừa nhận nói tục là văn hoá. Đó chính là lý do tại sao tớ lại đặt tiêu đề cho cái entry này như vậy. Còn bây giờ tớ mới đi vào vấn đề trọng tâm.

2. Phải nói ngay rằng tớ chẳng thích thú gì cái trò nói tục (cho dù thi thoảng tớ cũng nhỡ mồm), nhưng hằng ngày trong cuộc sống, tớ (và mọi người) vẫn thường xuyên được thưởng thức các giá trị văn hoá nhỡ mồm đó (tớ tạm thời gọi như vậy cho có vẻ hàn lâm một tẹo). Ôi thôi thì các giá trị văn hoá nhỡ mồm trên đời này thật khó mà kể cho hết, bởi nó vô cùng phong phú về ngôn từ, đa dạng về ngôn ngữ; nhưng tớ tạm phân các giá trị đó thành 4 nhóm:

(i) Nhóm giá trị liên quan đến các đấng sinh thành: thầy, bu, bố tổ, tiên sư…;

(ii) Nhóm giá trị liên quan đến tín ngưỡng phồn thực: đệch, đe*o, trym, bướm, ong, ve… (à quên, không có ong và ve);

(iii) Nhóm giá trị liên quan đến các sản phẩm của quá trình bài tiết: shit, ị, uýnh rắm, tiểu quốc (hay nước nhỏ, nước tiểu)…;

(iv) Nhóm giá trị liên quan đến các con thú cưng: trâu, bò, chó, ngựa, lợn, gà…

3. Chắc mọi người cũng đồng ý với tớ rằng khi nói tục, người ta cũng chẳng ý thức được mình đang nói cái gì, chỉ quen mồm văng ra thế (như một phản xạ vô thức) chứ không cố ý. (Yếu tố này quan trọng phết, vì nhỡ có bị kiện ra toà về tội xúc phạm người khác thì chắc hành vi không cố ý cũng được xem là tình tiết giảm nhẹ). Mà khi đã được nói ra một cách vô thức, thì người ta nói tục hay không tục có khác gì nhau? Tớ tỷ dụ, khi thằng A chim cú một thằng B nào đó, thằng A sẽ lôi đấng sinh thành thằng B ra để mạt sát (“bu mày!” – chẳng hạn thế), nhưng vì được nói ra một cách vô thức nên đối với A, việc bu hay thầy của B bị mạt sát là không quan trọng; trong trường hợp này thì bu cũng như thầy, cũng như hàng xóm, bạn gái, đồng nghiệp, trưởng phòng, giám đốc công ty… (túm lại là tất cả những ai có liên quan đến thằng B). Ngược lại, đối với thằng B, đương nhiên việc đấng sinh thành của nó bị mạt sát là điều rất khó chấp nhận, nhưng nếu hàng xóm hay bạn gái hay trưởng phòng của nó bị lôi ra để xỉ vả, thì chắc là dễ tiêu hoá hơn rất nhiều. Thế thì, tại sao người ta không thay câu “bu mày!” bằng “trưởng phòng mày!” hay “hàng xóm mày!” có phải được việc hơn không? Người nói vẫn thấy sướng mồm, mà người nghe thì lại không tức mấy(!)

4. Thuở còn cắp sách tới trường, tớ thấy nhà trường thường rất lên án các cô cậu học trò nói tục, biểu hiện rõ ràng nhất là những cô cậu nào trót nói ra mà nhà trường biết được thì sẽ bị trừng phạt (bằng những hình thức cũng vô cùng đa dạng: ghi vào sổ liên lạc để “méc” cho phụ huynh, hạ hạnh kiểm…, thậm chí có khi còn dã man hơn thế nhưng vì hồi đó không có Dantri.com nên tớ cũng không được biết). Hồi ý tớ cũng chẳng nghĩ ngợi gì về mấy cái chuyện đó lắm, chỉ cố làm sao càng ít bị trừng phạt càng tốt; nhưng bi h tớ lại nghĩ, cùng với nhiều thứ cấm kỵ giáo điều khác của nhà trường, thì việc cấm các cô cậu học trò nói tục là cực kỳ vô lý. Về phương diện khoa học thì như đã trình bày ở trên, nói tục vốn dĩ là văn hoá, là sự thể hiện tính đa dạng và phong phú về ngôn từ (mà cù tỉ là thán từ), và tớ dám cam đoan rằng không có thứ ngôn ngữ của dân tộc nào lại không có một series các giá trị văn hoá nhỡ mồm. Do đó, việc nhà trường cấm học trò nói tục, trên phương diện nào đó, là phủ nhận các giá trị văn hoá mà loài người đã dày công sáng tạo và tích luỹ (nói trắng ra là phản động). Mà tớ cũng chẳng tài nào hiểu nổi tại sao nhà trường cấm học trò nói tục trong lúc lại đi dạy cho học trò những bài kiểu như:

“Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, lại đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ” (Trần Hưng Đạo, “Hịch tướng sĩ văn”, Văn học 9, NXB Giáo dục, H., 1993); hay:

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc!/ Có chồng hờ hững cũng như không!” (Trần Tế Xương, “Thương vợ”, Văn học 8, tập I, NXB Giáo dục, H., 1992); hay:

“Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng/ Chém cha cái kiếp lấy chồng chung” (Hồ Xuân Hương, “Lấy chồng chung”, Văn học 8, tập I, NXB Giáo dục, H., 1992)…

(Đấy là tớ còn chưa thèm kể đến một tác phẩm khác của Nam Cao mà bất kỳ ai muốn thi đại học các khối C, D, G, H, K… đều phải học thuộc lầu lầu cái câu mở đầu “Hắn vừa đi vừa chửi”).

5. Để thay cho nhời kết của entry này, tớ có mấy đề nghị nho nhỏ như thế này:

- Xã hội không nên có cái nhìn khắt khe quá đối với hành vi nói tục; nhà trường cũng đừng nên trừng phạt các cô cậu học trò vì cô cậu nào đó trót nhỡ mồm nói ra những câu được coi là “tục” nữa.

- Các nhà ngôn ngữ, thay vì ngồi buôn nước bọt về những chuyện trên trời dưới đất không có lợi cho quốc kế dân sinh, hãy nghĩ ra một series các giá trị văn hoá nhỡ mồm khác thay thế cho các nhóm đã kể ở phần 2 nêu trên, sao cho vừa không động chạm đến các bậc tiên liệt, vừa tế nhị lại không mất vệ sinh, mà khi nói được ra thì người nói cảm thấy hả lòng hả dạ, người nghe thì nghĩ “chắc nó chừa mình ra”.

- Tớ dông dài linh tinh vậy thôi, chứ nói tục thì hay ho gì (nhưng tớ vẫn bảo lưu ý kiến rằng nói tục là văn hoá đấy nhé). Nếu ai đó chưa bao h nhỡ mồm thì hãy cố đừng để bị nhỡ, còn ai đó trót nhỡ mồm rồi thì từ rày cố mà tránh đi nhé.

Thế thôi, nhẩy?? Tớ đi ngủ trước đây. Cám ơn mọi người đã dành thời gian đọc entry này của tớ.

Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2008

Lợn con, cây kéo và lọ hồ




Hôm nay vào Học viện Tài chính để dự lễ trao bằng thạc sỹ cho khoá cao học 2004. Vậy là sau gần 3 năm (tạm coi là) vất vả, cuối cùng mình cũng đã bước được thêm một bước trên con đường phổ cập giáo dục. (Lãnh đạo Bộ Giáo dục nghe câu này chắc không vui đâu, nhưng thiên hạ vẫn gọi học đại học là phổ cập giáo dục cấp IV và cao học là phổ cập giáo dục cấp V; mấy ông Bộ Giáo dục có giỏi thì đi mà bịt miệng thiên hạ). Thực ra cái buổi hôm nay cũng chỉ là cái cớ để các bạn bè cũ ở lớp cao học gặp lại nhau, nói những chuyện ba lăng nhăng mà ngày đi học vẫn nói, và bày những trò bù khú mà ngày đi học vẫn làm…

Sau một loạt nghi thức linh tinh và trao bằng cho từng tân thạc sỹ, buổi lễ đi vào hồi kết bằng một bài phát biểu khá dài của Giám đốc Học viện. (Không hiểu người ta suy nghĩ thế nào mà chuyển trường Tài chính từ University thành Academy, chứ mình vẫn thích gọi là Đại học Tài chính Kế toán Hà Nội hơn Học viện Tài chính, thích gọi là thầy Hiệu trưởng hơn Giám đốc Học viện).

Ông Giám đốc nói rằng cho dù có những điều tiếng thế này thế nọ về đào tạo sau đại học ở Việt Nam, nhưng công bằng mà nói thì chất lượng đào tạo cũng tương đối tốt, bởi suy cho cùng, những thành tựu kinh tế nổi bật của đất nước trong những năm qua là nhờ vào sự đóng góp của ai nếu không phải là của các nhà khoa học, các nhà quản lý kinh tế do các trường đại học trong nước đào tạo ra, trong đó có Học viện Tài chính? (Ông ý nói nghe có vẻ hợp lý nhỉ?). Đương nhiên, ở nơi này nơi kia thì vẫn có những thạc sỹ, tiến sỹ chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế, mà nói thẳng ra thì họ chỉ có cái bằng chứ không có đủ lượng kiến thức tương xứng… (Ông này cũng khá thẳng thắn đấy!)

Ông Giám đốc còn nói nhiều lắm, không thể kể hết được, nhưng chung quy lại thì bài phát biểu của ông ấy chắc cũng làm cho nhiều người phải suy nghĩ.

Công bằng mà nói, mấy năm học cao học cũng không phải là không có tác dụng gì. Nếu không kể việc nhiều hôm đến lớp chỉ để tán hươu tán vượn lung tung, hoặc xin thầy giáo cho về sớm để đi nhậu nhẹt, hát hò… thì ngoài việc từ nay được công nhận tốt nghiệp phổ thông cấp V, ít nhất mình cũng đã quen được rất nhiều người bạn mới – mà như cổ nhân vẫn thường nói là “giàu vì bạn”.

Tuy vậy, nói đi rồi cũng phải nói lại, cho dù ông Giám đốc đã “ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực của các anh chị em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu ở Học viện Tài chính”, thì mình vẫn không thể không thừa nhận rằng rất nhiều (nếu không muốn nói là phần đông) những người đi học cao học chỉ là để lấy bằng, còn trong suốt 3 năm cao học, họ hầu như chẳng học hành, nghiên cứu gì; đến khi làm luận văn thì cũng chỉ là sao chép, cắt dán ở đâu đó.

Đương nhiên không thể đánh đồng tất cả các thạc sỹ (và cả tiến sỹ nữa) vào với nhau bởi cũng có người miệt mài nghiên cứu thật sự, nhưng rõ ràng cách đào tạo sau đại học của Việt Nam hiện nay làm cho nhiều người được nhận những học vị mà họ không xứng đáng với nó. Bởi vậy nên bấy lâu nay nhiều đứa ác khẩu vẫn nói rằng thạc sỹ Việt Nam “như lợn con” (ặc, nói thế thì chả khác gì nói thạc sỹ Việt Nam vừa đông, vừa ngu như lợn – mà còn là lợn con mới đau chứ, thà rằng chúng nó bảo là “như lợn nái” hay “như lợn sề” có khi còn đỡ đau hơn); người khác thì nói rằng nghiên cứu khoa học ở Việt Nam chủ yếu là cut và paste (ơ, vậy thì tại sao ở Việt Nam, người vẫn lấy hình ảnh cái bánh xe lưỡi cưa, cây bút và quyển sách, hay hình ảnh các điện tử quay quanh hạt nhân làm lôgô của các trường đại học, các viện nghiên cứu hay các hội khoa học nhỉ? Lấy quách cái kéo và lọ hồ làm lôgô có phải là trực quan hơn không?). Chính ông cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục (bây giờ thì về vườn rồi) cũng đã từng phát biểu trước Quốc hội rằng hiện nay (tức là cách đây mấy năm rồi) có khoảng hơn 3.000 tiến sỹ (mình cứ lấy tròn là 3.000 đi), sau khi bảo vệ luận án xong thì không tiếp tục con đường nghiên cứu khoa học nữa, mà chỉ đơn thuần làm công tác quản lý (nói khác là làm “sếp”); và mấy ông tiến sỹ này được xếp vào cái loại “không biết gì”. (Đương nhiên, làm luận án tiến sỹ xong mà không tiếp tục nghiên cứu khoa học nữa thì biết cái đếch gì; nhưng khổ nỗi, cho dù có ông tiến sỹ nào đó tiếp tục nghiên cứu đi chăng nữa, thì xã hội vẫn coi mấy ông tiến sỹ không công tác trong các cơ sở đào tạo và nghiên cứu là loại “không biết gì”).

Những năm tiếp theo, không biết giáo dục Việt Nam có gì chuyển biến hơn không, nhưng với chương trình đào tạo 2 vạn tiến sỹ đến năm 2020 của Bộ Giáo dục thì không biết sẽ có bao nhiêu tiến sỹ thuộc loại “không biết gì” bị sản xuất ra nữa. Mà đào tạo được một tiến sỹ có phải là tốn ít tiền đâu; ngoài khoản kinh phí ngân sách nhà nước cấp (nghe Tây đồn là khoảng 120 triệu/năm/nghiên cứu sinh) thì bản thân mỗi nghiên cứu sinh cũng phải nhịn ăn nhịn mặc bao nhiêu lâu mới có thể trang trải đủ thứ chi phí – “chìm” có, “nổi” có – để bảo vệ thành công một cái luận án tiến sỹ. Cứ cho là có nghiên cứu sinh nào đó nghiên cứu một cách nghiêm túc đi (chắc là phải tự mình cut – paste chứ không nhờ người khác), mỗi tuần có vài bữa không ăn cơm và mỗi tháng có vài ngày không mặc quần áo (ấy là mình tỉ dụ về một cách “nhịn ăn nhịn mặc” cụ thể và sinh động nhất), thì sau 4 – 5 năm trời ròng rã miệt mài nghiên cứu với phương pháp chủ yếu là đánh máy và cut – paste, họ sẽ được xếp vào số hơn 3.000 tiến sỹ “không biết gì” kể trên.