Thứ Năm, 23 tháng 5, 2024

“Ghen tuông” bắt nguồn từ triều đại nhà Đường?


“Viên Thiệu chết rồi, bọn Thẩm Phối lo liệu ma chay.

Lưu thị bắt năm người nàng hầu yêu quý nhất của Thiệu đem giết đi. Lại sợ âm hồn những người ấy xuống chín suối còn đi lại được với Thiệu chăng, Lưu thị bèn sai gọt tóc, đâm nát mặt mũi, băm nát mình mẩy họ. Ghen tuông đến thế là cùng!”

Đấy là một đoạn nguyên văn trong Tam quốc diễn nghĩa, Hồi 37, nói về chuyện vợ của Viên Thiệu là Lưu thị đối xử với các tiểu thiếp của chồng. Mà Viên Thiệu mất vào cuối đời Đông Hán mạt, đâu đó khoảng năm 200CN, tức là trước nhà Đường có đến ba bốn trăm năm.

Trước Lưu thị, nhà Hán cũng sinh ra một người đàn bà ghen tuông khủng khiếp, đó là Lã Trĩ, hay còn được gọi là Lã Hậu, chánh thất của Hán Cao tổ Lưu Bang - người khai sáng nhà Hán, trước thời Viên Thiệu khoảng 400 năm.

Khác với Lưu thị ít được nhắc đến trong các tác phẩm văn học nghệ thuật, Lã Trĩ thường xuyên được chọn làm nhân vật trong nhiều tiểu thuyết, kịch và phim, mà trong đó, những người đàn bà đã từng bước qua cuộc đời Lưu Bang đều bị Lã Trĩ, bằng cách công khai hoặc ngấm ngầm, lấy mạng hoặc làm cho phải điêu đứng khổ sở, sống không bằng chết. Điểm hơn người họ Lã nằm ở chỗ, trong khi những người liền bà được Lưu Bang sủng ái bị mụ ta đì lên đì xuống, thì chánh thất của Cao Tổ lại tư thông với một kẻ tôi tớ tên là Thẩm Tự Cơ, thậm chí đưa tay buôn súng này lên làm thừa tướng.

Trước Lã Trĩ thì sách Đông Chu liệt quốc cũng chép nhiều chuyện các vương hậu, vương phi của thiên tử và các phu nhân, tiểu thiếp của chư hầu thời Xuân Thu, Chiến Quốc tìm cách trị nhau đến nơi đến chốn.

Kể sơ sơ vậy để thấy ngành ghen tuông được sách sử ghi nhận là đã có từ rất lẩu rất lâu trong lịch sử loài người, chứ liền bà đời Đường chưa đủ tuổi để khai sáng ra cái ngành danh giá này. Nhưng chỉ đến đời Đường, thì ngành ghen tuông mới chính thức được đặt tên là "ghen tuông”.

Điều đó cũng giống như, cây thì là vốn đã có từ cái thủa mẹ Âu Cơ đi khai thiên lập địa. Dưng chỉ đến khi đám cây cối ở dưới đất kéo nhau lên trời hỏi tên, thì cây thì là mới được gọi là “thì là” vậy!

Thứ Ba, 8 tháng 8, 2023

Trùng Bát


Hôm nay là ngày mùng 8 tháng 8. Theo tiếng nước Lạ, hai số 8 chập vào nhau thì gọi là “trùng bát”. Chẳng hiểu có sự liên quan nào không, nhưng Trùng Bát cũng là tên gọi thủa nhỏ của Chu Nguyên Chương, người khai sáng đế quốc Đại Minh.

Chu Trùng Bát là con út trong một gia đình rất nghèo, có 8 người con. Thủa còn bé, Trùng Bát thường xuyên bị đói ăn và mơ ước khi lớn lên sẽ làm hoàng đế để tha hồ ăn bánh nướng và bánh bột. Theo hình dung của cậu bé, làm hoàng đế muốn ăn bánh nướng, bánh bột lúc nào thì ăn. Sáng mở mắt ra là ăn, lên thiết triều cũng ăn, thiết triều xong lại ăn…, tất cả chỉ gói gọn trong 2 món: bánh nướng và bánh bột.


Ảnh: Trùng Bát trong phim "Chu Nguyên Chương"
Lớn lên, Trùng Bát gia nhập quân khởi nghĩa chống lại nhà Nguyên. Dần dà, đạo quân khởi nghĩa do ông đứng đầu đã đánh bại các nhánh quân khởi nghĩa khác và đánh đuổi quân Mông Cổ ra khỏi nước Lạ. Từ đó, Chu Trùng Bát (lúc này đã đổi tên thành Chu Nguyên Chương) lên ngôi hoàng đế và lập ra một đế chế hùng mạnh.

Sau khi lên ngôi, Trùng Bát lần lượt “làm thịt” hết các công thần đã theo ông xông pha nơi hòn tên mũi đạn từ khi nhà Minh chưa thành lập. Sử chép, nhiều võ tướng và mưu sĩ thân cận của Trùng Bát như Lam Ngọc, Từ Đạt, Lý Thiện Trường, Lưu Bá Ôn, Dương Hiến, Hồ Duy Dung…, đã bị trừ khử hoặc bị ép phải rút lui khỏi quan trường để bảo toàn tính mạng.

Ngoài thịt của các công thần ra, giống như nhiều vị vua chúa khác, Trùng Bát cũng rất thích một món khác là thịt mỹ nữ. Sử chép, hậu cung của Trùng Bát có vô cùng nhiều giai nhân, trong đó phi và tần không dưới 40 người. Sử cũng chép rằng Trùng Bát quản lý hậu cung vô cùng nghiêm khắc và có phần tàn khốc, chỉ cần phát hiện phi tần có biểu hiện không chung thủy, ông sẽ xử nghiêm không cần lý do. Thậm chí có những giai thoại cho rằng, Trùng Bát đã giết hại đến 5 nghìn cung nữ.

Tuy nhiên, khác với ước mơ của Trùng Bát thủa nhỏ, sử sách để lại của nước Lạ không hề có dòng nào cho biết Minh Thái Tổ đã ăn bao nhiêu bánh nướng và bánh bột sau khi lên ngôi hoàng đế…

Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2023

Ngó dzậy mà không phải dzậy!


Chuyện nhiều khi trông thấy tận mắt mà lại không phải là sự thật, các cụ ạ!

Sách xưa chép lại, có lần, Đức Khổng Tử sai đệ tử ruột là Nhan Hồi nấu cơm. Cơm vừa chín thì Nhan Hồi mở vung lấy đũa xới một ít cho vào miệng, ăn lấy ăn để.

Khổng Tử ở nhà trên vô tình nhìn xuống bếp và thấy cảnh đó. Ngài ngao ngán thở dài vì quá thất vọng về đứa học trò mà ngài yêu nhất.

Đến bữa, trong lúc Khổng Tử và các môn đồ ăn cơm, thì Nhan Hồi khoanh tay đứng ngoài chứ không ngồi vào mâm. Đức Thánh Khổng hỏi nguyên cớ, thì Nhan Hồi thưa rằng trong lúc nấu cơm có giở vung ra xem nhưng bị tro bếp bay vào nồi làm bẩn mất lớp cơm phía trên. Nhan Hồi hớt chỗ cơm bị bẩn định đổ đi, nhưng nghĩ tiếc của nên cho vào miệng ăn luôn, coi như đã ăn trước phần cơm của mình.

Khổng Tử nghe kể thì ngửa mặt lên trời than: Đèo mẹ, trông dzậy mà không phải dzậy! Suýt nữa thì mình thành kẻ hồ cmn đồ!

Nhưng đó là chuyện xảy ra của mấy ngàn năm trước, khi nhận thức của loài người vẫn còn nông cạn và Khổng Tử không đứng gần chỗ Nhan Hồi nấu cơm. Còn bối cảnh của chuyện sắp kể dưới đây thì hoàn toàn khác cả giời cả vực…

Sáng em đi làm bằng tầu điện. Lên tầu, em đứng cạnh một cô gái. Chả biết dung nhan của cô hay dở dư lào, vì cô đeo khẩu trang, dưng thấy cô bụng mang dạ chửa mà phải đứng, em cũng không khỏi ái ngại.

Nghĩ ngợi một tẹo, em liền chỉ vào 3 cô gái đang ngồi ngay sát chỗ cô gái kia đang đứng, bảo: Ai trong số các chị nhường chỗ cho phụ nữ có thai đi!

Một cô gái nghe vậy thì ngừng nói chuyện, đứng dậy nhường chỗ cho cô mang bầu.

Cô mang bầu hơi bất ngờ nhưng cũng khá vui trước những gì đang diễn ra. Vừa ngồi xuống ghế, cô vừa ngẩng lên nói với kẻ vừa ra tay nghĩa hiệp với mình: Cám ơn anh, nhưng không phải em có thai đâu ạ. Tại bụng em to nên anh tưởng vậy thôi!

Nghe cô kia nói, em chỉ thiếu đường chui xuống đất dưng chẳng có lỗ nẻ nào mà chui, đành đứng sượng trân cho cả mấy cô kia soi xét.

Mà nói chả phải mê tín, em cũng đã từng đưa thai phụ đi đẻ có phải ít lần đâu! Các cụ bảo, so giữa Khổng Tử và em thì ai mới là người bị hố to hơn?

Thứ Ba, 7 tháng 3, 2023

Câu chuyện tháng Ba: Tức Vĩ - Tam nguyệt Đào Hoa thần


Tức Vĩ là con gái nước Trần thời Xuân Thu bên Tầu, được gả cho vua nước Tức. Sách chép rằng Tức Vĩ mắt trong như thu thủy, má ửng như nhuỵ đào, mình mai, vóc liễu, gót sen uyển chuyển như áng mây chiều trước gió. Còn khi nàng dâng rượu thì bàn tay ngọc với ly ngà không phân biệt màu sắc.

Một lần, Tức Vĩ về thăm nước Trần, ngang qua nước Sái. Vua nước Sái là anh rể của Tức Vĩ, hay tin liền sai người rước vào thành, mở tiệc chiêu đãi.

Trong lúc ăn uống, vua Sái thấy Tức Vĩ xinh đẹp, mới buông lời trêu ghẹo. Tức Vĩ nổi giận, bỏ tiệc mà đi.

Vua nước Tức hay chuyện vợ mình bị vua Sái chọc ghẹo, liền sai sứ sang bày mưu cho vua nước Sở là Văn vương đem binh đánh nước Sái. Vua Sái thua trận, bị bắt về nước Sở.

Vua Sái căm giận vua Tức, mới tán tụng nhan sắc của Tức Vĩ trước mặt Sở Văn vương. Vua Sở động lòng, liền đem quân sang nước Tức, bắt vua Tức nhốt lại.

Tức Vĩ hay tin chồng bị bắt, bèn chạy ra vườn hoa, toan nhảy xuống giếng tự vẫn, nhưng chưa kịp nhảy thì bị quân Sở bắt được, đem nạp cho Sở Văn vương. Văn vương nói: “Nếu nàng chịu về Sở, ta sẽ tha chết cho Tức hầu!”

Tức Vĩ muốn cứu mạng chồng, đành theo Văn vương về nước Sở làm phu nhân. Vua sở thấy đôi má Tức Vĩ tựa hoa đào, mới gọi nàng là Đào Hoa phu nhân.


Ảnh: Tức Vĩ
Ở nước Sở, Tức Vĩ sinh được hai người con trai, nhưng suốt ba năm không nói chuyện với Sở Văn vương câu nào. Văn vương lấy làm lạ, cố hỏi duyên cớ thì Tức Vĩ tấm tức thưa: “Thần thiếp phải thờ hai chồng, đã không biết giữ tiết thì còn mặt mũi nào mà chuyện trò với ai”. Văn vương muốn lấy lòng Tức Vĩ bèn đem quân đánh nước Sái.

Mấy năm sau, Sở Văn vương qua đời, con của Tức Vĩ lên làm vua. Em của Văn vương là Vương tử Nguyên, đang làm tể tướng nước Sở, mê sắc đẹp của chị dâu, bèn cho xây một ngôi nhà cạnh cung của Tức Vĩ, ngày đêm bắt vũ nhạc múa hát, cốt làm cho Tức Vĩ say lòng.

Tức Vĩ thấy thế, thở dài nói: “Tiên quân ta (chỉ Sở Văn vương) ngày xưa chăm lo luyện tập binh sĩ, làm cho chư hầu đều thần phục. Bây giờ quân Sở ta đã mười năm nay, chưa tiến được nửa bước vào Trung Nguyên, thế mà quan tể tướng không nghĩ những điều xấu hổ ấy lại bày việc đờn ca, hát xướng bên cung gái góa này, thật lạ lùng làm sao!”

Vương tử Nguyên nghe được lời ấy thì xấu hổ, nghĩ thầm: “Một người đàn bà còn có chí như vậy, lẽ nào ta đây là một đấng trượng phu lại chẳng nghĩ đến sao”. Bèn điểm quân kéo sang nước Trịnh nhưng không đánh mà lại rút về, sai người đến báo cho Tức Vĩ hay tin quân Sở đắc thắng khải hoàn.

Tức Vĩ nghe nói mới bảo: “Nếu quan tể tướng đắc thắng thì cáo tế với nhà thái miếu, rồi truyền bá cho dân chúng biết, chứ nói với gái góa nầy làm chi?”

Vương tử Nguyên nghe vậy thì vừa thẹn vừa buồn, nhưng vẫn không muốn từ bỏ. Gặp lúc Tức Vĩ bị bệnh, Vương tử Nguyên giả cách vào thăm, rồi ở mãi trong cung, không chịu về.

Tức Vĩ thấy hành động của Vương tử Nguyên quá lăng loàn, mới sai đại thần tìm mưu trừ bỏ đi.

Câu chuyện nói trên được chép trong sách “Đông Chu liệt quốc”. Tuy nhiên, sách “Liệt nữ truyện” thì lại chép rằng sau khi diệt nước Tức, Sở Văn vương lấy Tức Vĩ, rồi bắt vua Tức làm quan giữ thành.

Nhân khi Sở Văn vương du hành khỏi kinh đô, Tức Vĩ lén gặp vua Tức, nói: “Cả đời chỉ có một lần chết, hà cớ tự đày đọa mình! Thiếp không cầu an bình mà phải quên đi ngài, càng không muốn cái tiếng một đời thờ hai chồng. Khi sinh ra là tách khỏi đất trời, há chẳng phải chết đi sẽ toại ý quay về sao?”

Vua Tức cản lại nhưng Tức Vĩ không nghe mà tự sát, rồi vua Tức cũng tự sát theo. Dân gian lưu truyền rằng khi Tức Vĩ qua đời là khoảng tháng ba, cũng là lúc hoa đào nở rộ, vì vậy dân gian còn suy tôn nàng là Tam nguyệt Đào Hoa thần.

Thứ Sáu, 19 tháng 11, 2021

Chuyện dẹp loạn trong phim, chuyện chống dịch ngoài đời


Hôm rồi tôi tình cờ xem trên YouTube một đoạn trong phim Thủy Hử kể về trận đánh của nghĩa quân Lương Sơn để hạ thành trì cuối cùng của Phương Lạp.

Trước giờ khai chiến, Tống Giang rót một bát rượu to, nâng lên và nói với các huynh đệ: “Đánh xong trận ngày hôm nay, chúng ta sẽ được ban sư hồi triều. Lúc này trong lòng Tống Giang đang nghĩ không phải tiền đồ lớn lao gì hay là sự phong thưởng của triều đình, chỉ mong những huynh đệ cùng ta uống bát rượu này đều sống sót sau trận chiến, cùng Tống Giang sum họp một nhà”.

Đáng tiếc là trong trận ấy, mặc dù quân của Tống Giang giành phần thắng, nhưng tướng sĩ Lương Sơn có quá nhiều người tử trận. Điều đó cũng có nghĩa, mong mỏi của Tống Giang trước trận đánh đã không thể trở thành hiện thực.

Xem đoạn phim ấy xong, tôi lại nghĩ đến chuyện đồng bào ta chống chọi với dịch Covid-19 vừa rồi. Mặc dù đến nay đã trải qua 4 đợt dịch và nhiều sinh hoạt đời thường đã được vãn hồi, nhưng khi nghĩ đến hơn hai vạn đồng bào bỏ mình vì đại dịch, lòng người chắc không khỏi thấy bùi ngùi thương cảm. Và mỗi khi dịch bệnh bùng lên một đợt mới hay bản thân phải đối diện với bệnh dịch, có lẽ mỗi người cũng đều có suy nghĩ giống Tống Giang trước khi công thành, không mong gì công cao tước lớn hay phú quý vinh hoa, chỉ mong giữ được thân mình để sum họp cùng gia quyến.

Chính bởi thế, dù có tổ chức lễ tưởng niệm hay cầu siêu hay không, thì việc mỗi người tự dành ra ít phút để nghĩ về những người đã mất trong những đợt dịch vừa qua là một việc nên làm. Nghĩ, không chỉ là để thấy mình may mắn hơn những người không vượt qua được dịch bệnh. Nghĩ, cũng không chỉ là để xót xa cho những người đã khuất hay thương cảm cho thân nhân của họ. Mà nghĩ, còn là để thấy mình có trách nhiệm trong việc làm bớt đi những trường hợp phải chống chọi với bệnh dịch hay những giờ khắc đau lòng mà dịch bệnh gây ra, kể cả cho người đi cũng như những người ở lại…

Chủ Nhật, 12 tháng 9, 2021

Nỗi lòng người đi: chuyện của Báo Tử Đầu


Lâm Xung, hiệu Báo Tử Đầu, là giáo đầu cấm quân ở thành Đông Kinh. Chàng có vợ là một người xinh đẹp, nết na, thương chồng rất mực.

Một bữa, Lâm nương tử ra ngoài, tình cờ lọt vào mắt của Cao Nha Nội - con nuôi của Thái uý Cao Cầu. Tên dâm tặc họ Cao trông thấy nàng thì sinh lòng thèm muốn, liền bàn với cha nuôi bày gian kế để chiếm đoạt. Bởi thế mà Lâm Xung đang yên đang lành bị thích chữ vào mặt, đày đi Thương Châu xa xôi nghìn dặm.

Ngày ra đi, Lâm Xung không muốn làm người vợ trẻ lỡ dở thanh xuân, mới thưa với nhạc phụ, xin làm giấy từ hôn. “Nương tử ở nhà, con lại đi xa, trong lòng không được yên. Đừng vì Lâm Xung mà làm cản trở tương lai!” - chàng tha thiết nói với nhạc phụ.

Nhạc phụ của Lâm Xung là một người trọng tình nghĩa. Ông biết Lâm Xung là người ngay thẳng, chẳng may mắc phải nạn oan mà vương vào lao lý. Bởi thế, dù Lâm Xung một mực muốn cho vợ cải giá, ông cũng chẳng nghe theo, thậm chí ngay cả khi chàng thề không trở về gặp vợ nữa. “Nếu đã nói thế thì giấy từ hôn, con cứ viết, nhưng ta nhất định không gả nó cho người khác!” - ông buồn bã nói với hiền tế.


Ảnh: Lâm Xung và vợ trong phim Tân Thuỷ Hử
Lâm Xung đang mang gông cùm nên không thể viết được. Chàng đành nhờ hàng xóm viết hộ một tờ “hưu thư”, tức là giấy từ hôn. Đại để trong thư nói Lâm Xung vì phải đi đày, sinh tử tồn vong khó liệu nên cam tâm tình nguyện cho vợ cải giá, viết giấy làm bằng để khỏi tranh chấp về sau.

Thư viết xong, Lâm Xung ký tên, điểm chỉ rồi lầm lũi đi theo hai tên áp ngục rời thành Đông Kinh, bỏ lại sau lưng người vợ trẻ khóc ngất với tờ hưu thư và ông bố vợ không ngăn nổi lệ tuôn lã chã trên khuôn mặt khắc khổ.

Mặc dù đã làm giấy từ hôn nhưng Lâm Xung không lúc nào khỏi thắc thỏm về người vợ trẻ, bởi vậy nên hễ gặp được người nào đáng tin, Lâm Xung đều ngỏ lời xin giúp đỡ. Lúc gặp Lỗ Trí Thâm ở thành Đông Kinh, việc đầu tiên Lâm Xung nói với người anh em kết nghĩa là nhờ trông nom gia quyến. Khi chia tay Sài Tiến ở Thương Châu, Lâm Xung cũng không quên khẩn cầu vị quan nhân danh gia thế tộc này chiếu cố cho thê tử của mình ở Đông Kinh. Thậm chí, ngay cả khi tính mạng bị đe doạ, thì Lâm Xung cũng không muốn Lỗ Trí Thâm đi theo để bảo vệ mình, mà quay về để trông chừng Lâm nương tử khỏi bị ức hiếp…

Không chỉ lo cho sự an nguy của người vợ hiền, Lâm Xung cũng không muốn sự chờ đợi của nàng trở thành vô vọng. Tuy đã hết lời thuyết phục vợ cải giá, nhưng Lâm Xung biết chắc là nhạc phụ sẽ không đời nào chấp thuận gả con gái vào nhà khác và vợ chàng cũng chẳng bao giờ đồng ý lấy ai. Bởi thế nên, dù trên đường đi đày gặp muôn vàn chuyện bất bằng, nhưng Lâm Xung vẫn cố chịu nhục cho qua, cốt giữ lấy thân mình để sau này được trở về nguyên lành gặp vợ…

Câu chuyện đáng thương của Báo Tử Đầu được Thi Nại Am kể trong truyện Thuỷ Hử và được các nhà làm phim tái hiện rất sinh động qua nhiều phiên bản khác nhau. Mặc dù trong mỗi hồi truyện hay tập phim, giáo đầu họ Lâm thường gây được chú ý bởi bản lãnh võ công cao cường của mình, nhưng đằng sau những màn thi triển tài nghệ tuyệt luân ấy, là cả một nỗi day dứt đến cùng cực và mong muốn đến cháy bỏng của một kẻ khô khan vốn chỉ quen chuyện đấm đá và luyện đao, múa kiếm như Lâm Xung.

Nếu để ý, người xem phim Thuỷ Hử có thể cảm nhận rất rõ nỗi lòng của Lâm Xung khi chàng đến nhà lao ở Thương Châu. Vì không muốn sau này “phải giẫy dụa trở về Đông Kinh đoàn tụ với thê tử”, mà một người vốn là giáo đầu của 80 vạn cấm quân đã không ngần ngại “hạ mình thấp giọng” mượn bạc của một người mới quen như Sài Tiến để đút lót cho cai ngục, những mong khỏi bị đánh đến tàn phế. Và dù có nhiều cơ hội thuận lợi nhưng Lâm Xung cũng không hề có ý định bỏ trốn để tuyệt đường trở về gặp vợ. Tất cả những nỗi niềm đó gói gọn trong mấy lời mà Lâm Xung nói với tên cai ngục: “Nếu như không thể gặp lại nương tử của tôi, bảo cô ấy yên tâm không lấy nhầm người, thì làm sao có thể chịu đựng đến bây giờ!”

Nhớ lúc chia tay ở Đông Kinh, người vợ trẻ đã ôm lấy tay của Lâm Xung mà khóc: “Chàng đi một ngày, thiếp đợi một ngày. Chàng đi một năm, thiếp đợi một năm. Chàng đi một đời, thiếp đợi cả một đời”.

Người vợ trẻ không biết rằng trong những ngày nàng vò võ ở Đông Kinh, thì ở nơi lao thành xa xôi, Lâm Xung, trong cái thế cực chẳng đã, buộc phải xuống tay với thủ hạ của Cao Cầu để giữ lấy tính mạng mình, và đường trở về gặp vợ của Báo Tử Đầu cũng bởi thế mà trở thành tuyệt lộ.

Nhưng ví thử, Lâm nương tử biết được Báo Tử Đầu không còn đường quay về và sự chờ đợi của nàng không phải là chuyện một ngày hay một năm, thì việc phải dành cả đời để ôm hình bóng của một người chồng như Lâm Xung, kể cũng không hoài cái công điểm phấn tô son vậy!

Thứ Năm, 19 tháng 7, 2018

Người phàm hơn được thánh nhân không?



​​

Theo sách xưa kể lại thì Đức Thánh Khổng có rất nhiều học trò. Trong đó, Nhan Hồi là người được Khổng Tử yêu nhất.

Có lần, Nhan Hồi được giao nấu cơm cho thầy và các đồng môn. Khi cơm chín, Nhan Hồi lấy đũa xới một ít cho vào miệng ăn. Khổng Tử ở nhà trên vô tình nhìn xuống bếp và thấy cảnh đó. Ngài bất giác thở ra một tiếng dài như chân của Ngọc Trinh, không ngờ đứa học trò ngài yêu nhất lại cư xử vô lễ như vậy.

Đến bữa, trong lúc Khổng Tử và các môn đồ chuẩn bị ăn cơm, thì Nhan Hồi khoanh tay đứng ngoài chứ không ngồi vào mâm. Đức Thánh Khổng hỏi vì sao, thì Nhan Hồi thưa rằng trong lúc nấu cơm có giở vung ra xem nhưng không ngờ bị tro bếp bay vào nồi làm bẩn mất lớp cơm phía trên. Nhan Hồi định hớt chỗ cơm bị bẩn đổ đi, nhưng nghĩ tiếc của nên cho vào miệng ăn luôn, coi như đã ăn trước phần cơm của mình.

Khổng Tử nghe kể thì ngửa mặt lên trời thở ra một tiếng khác dài như chân của Hà Hồ, than rằng chỉ vì tin vào những điều mắt thấy mà suýt nữa thành kẻ hồ đồ.

Lại có trường hợp khác na ná như vậy, ấy là chuyện một anh tiến sĩ mới được phân đến làm việc ở một viện nghiên cứu mà ở đó anh trở thành người có học vị cao nhất.

Một hôm, anh tiến sĩ đến cái hồ phía sau viện nghiên cứu để câu cá, thấy viện trưởng và viện phó cũng đang ngồi câu. Anh ta chọn một chỗ ngồi cách xa hai người kia, trong đầu nghĩ: “Hai người chỉ học vị đại học, có gì đáng để nói chuyện?”

Một lúc sau, ông viện trưởng buông cần câu đứng dậy rồi bước đi trên nước như là bay ngang hồ để đến nhà vệ sinh bên kia hồ. Sau khi ca xong bài “Ai xoè” của ban nhạc All-4-one[1], ông viện trưởng lại băng qua mặt nước để trở về chỗ câu cá.

Được một lát, anh tiến sĩ nhìn thấy ông viện phó cũng đứng dậy và đi băng qua mặt nước để đến nhà vệ sinh, đoạn lại băng qua mặt nước để trở về chỗ câu cá sau khi đã ca xong bài “Khát vọng” của Thuận Yến phổ thơ Đoàn Thị Nam Nuyến[2].

Anh tiến sĩ ngạc nhiên quá đỗi vì không nghĩ mấy cái người có học vị thấp hơn anh lại có thể làm cái việc mà anh tưởng đâu chỉ có các cao thủ giang hồ mới làm nổi.

Qua một lúc sau, anh tiến sĩ cũng có nhu cầu ca bài “Ai xoè” nhưng không muốn phải đi nửa vòng hồ để đến cái nhà vệ sinh kia. Anh quyết định cũng dùng thuật giang hồ để băng qua mặt nước, bởi không lí gì hai người chỉ có trình độ đại học có thể đi trên mặt nước được mà người có trình độ tiến sĩ lại không.

Nhưng sau đó thì một “tủm” vang lên và anh tiến sĩ phải bơi lóp ngóp ở dưới hồ. Hai vị lãnh đạo viện kịp thời chạy lại kéo anh tiến sĩ lên và hỏi tại sao anh lại nhảy xuống nước.

Anh tiến sĩ không trả lời mà hỏi rằng: “Tại sao các vị lại có thể đi qua trên nước?” Hai vị kia cười lớn: “Trong hồ này có thanh gỗ nối giữa hai bờ, nhưng vì hôm nay nước dâng cao nên bị che mất. Chúng tôi biết vị trí thanh gỗ nên có thể đạp trên nó mà đi qua”.

Anh tiến sĩ nghe ra thì thấy chua chát với sự hồ đồ của mình, bất giác ngửa mặt lên trời thốt ra hai tiếng: “Đèo mẹ!”

Kể những câu chuyện ở trên, chúng tôi muốn nói rằng, nhiều khi những điều tận mắt trông thấy lại không hề là sự thật. Điều đó không chỉ có trong câu chuyện Nhan Hồi nấu cơm hay anh tiến sĩ đi tè, mà còn xảy ra rất nhiều trong cuộc sống quanh ta.

Tỉ như, trong khi quần chúng cứ bụm miệng cười việc một ông quan xã bị yêu cầu kiểm điểm về nỗi rủ nữ cán bộ chính sách vào nhà nghỉ, thì thực tế lại cho thấy chị cán bộ kia chỉ làm mỗi việc là đưa giúp thuốc giải rượu vào nhà nghỉ cho quan xã, bởi ông ta chẳng may bị say nguội từ tối hôm trước.

Hoặc như, một ông quan huyện và nữ cán bộ tỉnh bị người nhà hai bên bao vây trong nhà nghỉ để chực đánh ghen vì cho rằng hai người kia đang làm chuyện mèo mỡ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy là đám người nhà của họ đã nhìn quá sai, vì ông quan huyện chẳng qua chỉ vào nhà nghỉ để hỏi thăm sức khoẻ của chị cán bộ chẳng may bị trúng gió trong khi uống nước phải vào đó để nghỉ.

Hoặc gần đây, là chuyện người ta nổi cơn tam bành trước việc con gái một ông quan tỉnh có điểm thi tốt nghiệp cao hơn những gì bài thi của cô ấy thể hiện. Hiềm nỗi, sau khi hỏi ra ngọn ngành thì mọi người mới té ngửa, là ông quan tỉnh không hề biết gì về việc con gái ông bị cộng điểm, hơn nữa đó có thể lại là sự lợi dụng để đưa con lãnh đạo vào tròng.

Vân vân và mây mây.

Từ những câu chuyện ở trên, có lẽ mỗi người cũng nên suy nghĩ thấu đáo hơn về cách nhìn nhận của mình để có phản ứng phù hợp trước những chuyện đập vào mắt. Trong khi, những người được coi là “thánh nhân” như Khổng Tử, hoặc là “ông Nghè” như anh chàng tiến sĩ kia, nhìn thấy sự việc sờ sờ trước mắt nhưng vẫn nhận định sai lầm, thì không có lí gì những người đã được bậc vĩ nhân coi là “nông nổi”[3], lại dám cho mình tinh tường hơn cả thánh nhân hay ông Nghè.

Thế cho nên, trước khi định cười chê ai đó rủ vợ người khác vào nhà nghỉ, hoặc nổi đoá với việc con cái của ai đó được nâng khống điểm thi tốt nghiệp, thì người đời hãy thử nghĩ lại, xem liệu mình đã bằng Đức Thánh Khổng hay chưa. Mà ví thử, có người nào dám quả quyết rằng mình đã bằng được Khổng Tử, thì cũng không có gì đảm bảo nhìn nhận của người đó là đúng, bởi rõ ràng câu chuyện ở phần trên đã chứng minh: thánh nhân mà cũng nhìn sai nữa là!

(*) Bài viết có sử dụng câu chuyện trôi nổi trên mạng về Nhan Hồi và chàng tiến sĩ.

-----
[1] Đó là bài hát có câu mở đầu: “I swear by the moon and the stars in the skies. And I swear like the shadow that’s by your side…”
[2] Bài hát được mở đầu bằng câu: “Gửi tình yêu vào đất, được hoa trái đầy cành…”
[3] Bậc vĩ nhân này tên Xuân, được biết đến trong chương cuối cùng của một công trình nghiên cứu do bác gì đó Phụng công bố với tiêu đề: “Xuân Tóc Ðỏ cứu quốc. Xuân Tóc Ðỏ vĩ nhân. Nỗi buồn của ông bố vợ không bị đấm”

Chủ Nhật, 27 tháng 5, 2018

Đông Chu liệt quốc - Hồi thứ 71b




Hồi thứ 71b
TRANG GIÁM QUÂN HAM VUI KHỞI HÀNH CHẬM
ĐIỀN NGUYÊN SOÁI VÌ NƯỚC XUỐNG ĐAO NHANH


Trước nói, nước Tấn nghe tin “tam kiệt” nước Tề đã chết, liền cất quân sang đánh mặt đông; nước Yên cũng thừa cơ đem quân sang xâm nhiễu mặt bắc.

Quan tướng quốc nước Tề là Án Anh vội vào yết kiến Tề Cảnh công, tiến cử một người ở ẩn là Điền Nhương Thư làm đại tướng cầm quân chống giặc. Tề Cảnh công nghe theo, sai Án Anh đem lễ vật đón Điền Nhương Thư vào triều, phong làm nguyên soái, đem quân đi đánh Tấn và Yên.

Điền Nhương Thư tâu với Tề Cảnh công: “Tôi vốn con nhà hèn hạ ở chốn thôn dã, nay chúa công giao binh quyền cho, e rằng lòng người không phục. Xin chúa công chọn một người nào được trọng vọng trong nước xưa nay, để làm giám quân, thì hiệu lệnh của tôi mới có thể thi hành được”.

Tề Cảnh công theo lời, sai quan đại phu là Trang Giả đi làm giám quân. Điền Nhương Thư và Trang Giả cùng lạy tạ lui ra.

Ra đến ngoài triều, Trang Giả hỏi Điền Nhương Thư: “Quan nguyên soái định đến bao giờ cất quân đi?”

Điền Nhương Thư nói: “Giờ ngọ ngày mai, tôi xin đợi ngài ở quan môn để cùng đi, xin ngài chớ trễ hẹn”.

Đến giờ ngọ ngày hôm sau, Điền Nhương Thư truyền cho quân sĩ cắm cây gỗ làm nêu để xem bóng mặt trời, và sai người đến giục Trang Giả.

Trang Giả còn ít tuổi, vốn thấy mình được quí hiển mà kiêu căng, lại cậy thế Tề Cảnh Công yêu vì, nên chẳng coi Điền Nhương Thư ra gì; vả lại vẫn tưởng mình làm giám quân thì muốn thế nào cũng được. Ngày hôm ấy, họ hàng đều bày tiệc tiễn chân, Trang Giả vui chén quá say, thấy sứ đến giục, cũng chẳng buồn đứng dậy.

Điền Nhương Thư đợi mãi, mặt trời đã xế về tây, mà vẫn chưa thấy Trang Giả đến, mới trèo lên tướng đài để truyền hiệu lệnh cho quân sĩ.

Trang Giả đi đến quan môn, thủng thỉnh xuống xe, trèo lên tướng đài. Điền Nhương Thư cứ nghiễm nhiên ngồi không đứng dậy mà hỏi Trang Giả: “Quan giám quân vì cớ gì lại trễ hẹn như vậy?”

Trang Giả chắp tay vái mà đáp rằng: “Nhân vì tôi sắp khởi hành, họ hàng bạn hữu đều bày tiệc tiễn chân, thành ra đến chưa đúng giờ một chút”.

Điền Nhương Thư nói: “Nay nước giặc sang xâm nhiễu, ngoài biên thuỳ náo động, chúa công ta ngủ không yên giấc, ăn không ngon miệng, đem việc đánh giặc uỷ thác cho hai ta, cùng sớm tối lập công để cứu khổ cho trăm họ, còn lòng nào cùng với họ hàng bạn hữu bày cuộc vui mà đến trễ!”

Trang Giả tủm tỉm cười, đáp rằng: “Chỉ là đến chưa đúng giờ chứ không phải là đến trễ, quan nguyên soái bất tất phải quá trách”.

Điền Nhương Thư hỏi: “Đến chưa đúng giờ hay đến trễ thì có khác gì nhau?”

Trang Giả nói: “Đến trễ là đến chậm so với giờ hẹn, còn đến chưa đúng giờ bao gồm cả đến sớm hoặc đến muộn so với giờ hẹn! Các nước Trung Nguyên hiện nay đều nói như vậy!”

Điền Nhương Thư nổi giận, đạp bàn mà mắng rằng: “Hẹn giờ nào thì phải đến đúng giờ đấy, làm gì có chuyện đến chậm hay đến chưa đúng giờ! Nhà ngươi hẹn từ trưa nhưng đến chiều mới tới làm lỡ việc của ta, lại còn dám ngoa ngôn khiến quân sĩ sinh lòng trễ biếng, tội không thể tha!”

Liền gọi chức quân chính đến hỏi rằng: “Theo quân pháp, hễ hẹn mà đến chậm thì nên bắt tội gì?

Chức quân chính đáp rằng: “Cứ theo quân pháp thì phải xử trảm!”

Trang Giả nghe nói phải đem chém mới có ý sợ, vội vàng ở trên tướng đài chạy xuống. Điền Nhương Thư truyền quân sĩ trói Giả lại, rồi đem ra cửa quân để chém.

Bấy giờ Trang Giả không còn một chút hơi rượu nào cả, van van lạy lạy xin tha. Những người theo hầu Trang Giả chạy đến báo tin với Tề Cảnh công. Tề Cảnh công kinh hãi, liền sai sứ giả cầm cờ tiết đến bảo Điền Nhương Thư tha tội chết cho Trang Giả, lại dặn phải đi xe thật mau, kẻo không kịp. Nhưng khi sứ giả đi đến nơi thì Trang Giả đã kịp lên nóc tủ rồi.

Đời sau có thơ rằng:

Đến muộn thì nên nhận quách đi
Bày ra giảo biện để làm chi?
Đã không đúng giờ còn cố cãi
Răng hàm lẫn lộn cũng có khi!


Muốn biết Điền Nhương Thư cầm quân đánh giặc được thua thế nào, xem hồi sau mới rõ!

Xem thêm: Làm đại phu dư lào?

Thứ Tư, 14 tháng 6, 2017

Chuyện nhà Vệ Tuyên Công


Vua nước Vệ là Tuyên Công lúc chưa lên ngôi có tư thông với vợ lẽ của cha là nàng Di Khương, sinh được một con trai tên là Cấp Tử. Sau khi lên ngôi, Vệ Tuyên Công lập Cấp Tử làm thế tử, sai người sang hỏi con gái vua Tề là nàng Tuyên Khương về làm vợ Cấp Tử.

Tuy nhiên, Vệ Tuyên Công nghe nói Tuyên Khương nhan sắc tuyệt trần nên đem lòng ham muốn, liền lập mưu chiếm lấy làm vợ mình, sinh được hai người con trai là Thọ và Sóc. Cấp Tử là người hiếu thảo, biết hành động của Vệ Tuyên Công là bỉ ổi nhưng cũng không lấy thế mà oán trách.

Thọ và Sóc tuy là anh em ruột nhưng tâm tính khác nhau. Thọ thì hiền hậu, nhân từ, thương yêu Cấp Tử như anh ruột, còn Sóc thì độc ác, hiểm hóc, chẳng những ghét Cấp Tử mà còn ghét cả Thọ nữa, nên định ý trước hại Cấp Tử rồi sau mới hại Thọ.

Nhằm hôm sinh nhật của Cấp Tử, Thọ làm tiệc rượu chúc mừng, có cả Sóc dự. Trong bữa tiệc, Thọ và Cấp Tử chuyện trò rất thân mật. Sóc tỏ ý khó chịu, thoái thác về cung, làm bộ khóc lóc nói với mẹ: “Con vì lòng tốt mà dự tiệc với Cấp Tử, thế mà Cấp Tử lúc say rượu lại giở trò đùa, gọi con bằng con và nói: Mẹ của mày tức là vợ của ta, mày phải gọi ta bằng cha mới phải!”

Tuyên Khương tin là thực, khóc lóc thuật lại với Vệ Tuyên Công, lại đặt điều vu thêm cho Cấp Tử âm mưu cướp ngôi và xui Vệ Tuyên Công giết Cấp Tử.

Gặp lúc vua Tề sai người sang mượn quân nước Vệ, Tuyên Công mới bày mưu với Sóc sai Cấp Tử cầm cờ tiết trắng đi sứ nước Tề, rồi cho võ sĩ phục giữa đường mà giết.

Sóc được kế rất mừng, triệu tập bọn côn đồ, dặn đến phục nơi Sằng Giả là chỗ đường thủy giáp liền với đường bộ, hễ thấy có người cầm cờ tiết trắng đi ngang qua thì giết.

Không ngờ, mưu của Vệ Tuyên Công và Sóc bị Thọ biết được. Thọ nghĩ, âm mưu đã định sẵn thì dù can gián cũng chẳng ích chi, bèn lén qua kể với Cấp Tử. Cấp Tử ngồi thẫn thờ không đáp.

Thọ nói: “Ðường đi từ đây sang Tề thế nào cũng phải qua Sằng Giả, mà đã qua đó tính mạng anh ắt dữ nhiều lành ít. Chi bằng trốn sang nước khác rồi sẽ lo toan”.

Cấp Tử đáp: “Ðạo làm con, nếu không nghe lời cha mẹ đâu còn là hiếu thảo. Vả lại, nếu phụ thân đã có ý muốn ta chết thì dẫu có sống cũng chẳng ích chi”.

Nói xong, Cấp Tử sửa soạn hành trang, từ biệt Thọ rồi xuống thuyền đi theo đường thủy. Thọ khuyên can đến bực nào Cấp Tử cũng không nghe.

Thọ đứng nhìn theo, đôi dòng lệ không vơi, nghĩ thầm: “Anh ta quả là một người hiếu hữu, nếu để anh ta chết, sau này ta mặt mũi nào mà nối ngôi. Vả lại trong hoàn cảnh này chỉ có cái chết của ta may ra mới đánh thức được lòng thương xót của cha mẹ ta, đem lại một gia đình thảo thuận được”.

Nghĩ rồi, Thọ liền dọn một chiếc thuyền, đem đủ vật thực, gọi vài tên tùy tùng bảo chèo theo cho kịp thuyền của Cấp Tử để cùng dự tiệc rượu tiễn biệt. Chẳng bao lâu hai thuyền gặp nhau, Thọ nói với Cấp Tử: “Anh đi đường xa, em muôn dâng cho anh một chén rượu tiễn hành, để tỏ tình mong nhớ”.

Thọ nói rồi rót một chén rượu đầy dâng cho Cấp Tử, nhưng chưa kịp mời thì nước mắt đã tuôn tràn, chảy vào ly rượu. Cấp Tử vội bưng chén rượu uống cạn một hơi.


​​Ảnh: Cảnh Thọ tiễn Cấp Tử trong tiểu thuyết “Đông Chu liệt quốc”
Thọ sụt sùi nói: “Em khóc làm cho nước mắt nhỏ vào rượu, thực là vô lễ”.

Cấp Tử nói: “Anh chỉ muốn uống những giọt nước mắt ấy để được giữ mãi vào lòng tấm thâm tình của em”.

Thọ cốt phục rượu cho Cấp Tử thực say, nên rót thêm một chén nữa trao cho Cấp Tử: “Chén rượu này, em cùng với anh từ đây ly biệt. Nếu anh xét tình cho em thì nên uống với em mấy chén rượu nữa”.

Cấp Tử nói: “Khi nào anh lại dám từ chối!”

Hai anh em vừa uống vừa khóc. Một lúc sau, Cấp Tử say mèm nằm vật xuống khoang thuyền ngủ thiếp.

Thọ ôm anh khóc một lúc lâu, rồi bảo bọn thủ hạ: “Lệnh vua phải đi gấp mà anh ta say nên trễ nải vậy, ta phải đi thế mới được”.

Nói rồi Thọ cầm lấy cây cờ trắng và viết một bức thư đưa cho tên quân hầu, dặn lúc nào Cấp Tử tỉnh dậy sẽ đưa. Ðoạn Thọ cứ thẳng đường cho thuyền đến Sằng Giả.

Bọn côn đồ ở Sằng Giả thấy người cầm cờ tiết trắng đi đến, ngỡ là Cấp Tử, liền áp lại chém đầu Thọ bỏ vào một cái hộp rồi đoạt lấy cờ tiết mang về.

Còn Cấp Tử khi tỉnh rượu không thấy Thọ đâu, trong lòng hoảng hốt, liền mở thư ra xem. Thư chỉ viết mấy chữ: “Em đi thay anh, anh tìm nơi lánh nạn”.

Cấp Tử khóc oà, vội vã bảo bọn tùy tùng chèo thuyền cho mau đuổi theo Thọ. Thấy đàng xa có bóng thuyền nhấp nhô, Cấp Tử mừng rỡ, hét to: “Em ta còn sống! Thật lòng trời không phụ!”

Một lúc sau, chiếc thuyền nọ từ đàng xa phăng phăng rẽ nước đi đến. Trên thuyền không thấy Thọ, chỉ thấy một bọn côn đồ, gươm giáo sáng lòa. Cấp Tử lòng nghi ngại, hỏi: “Các ngươi phụng mệnh Chúa công, đã làm xong nhiệm vụ chưa?”

Bọn côn đồ nghe hỏi, tưởng là người của Sóc sai đến tiếp ứng nên bưng chiếc hộp có đựng đầu của Thọ đưa ra và nói: “Chúng tôi đã thành công”.

Cấp Tử vừa cầm đến chiếc hộp thì vùng ngã ra, khóc rống lên: “Ôi thôi! Còn gì em ta nữa!”

Bọn côn đồ biết mình đã giết lầm, liền áp lại chặt đầu Cấp Tử, bỏ chung vào một hộp rồi đem về dâng cho Sóc, kể lại sự giết lầm và rất lo sợ Sóc trách phạt. Chẳng ngờ, Sóc đã không giận mà lại còn vui mừng, đem vàng lụa thuởng cho bọn chúng rất hậu.

Vệ Tuyên Công tuy ghét Cấp Tử song rất yêu Thọ, nên khi nghe Thọ chết thì đau đớn buồn rầu rồi sinh bệnh mà thác, để lại ngôi vua cho Sóc.

Sau người nước Vệ có làm thơ vịnh hai anh em Cấp Tử và Thọ rằng:
Hai chiếc đầu rơi, một mối tình
Hồn oan ôm hận khóc xuân xanh
Lòng cha ví có không thương xót
Thà chết cho tròn nghĩa đệ huynh
.

Xem thêm:
- Gà cùng một mẹ
- Lý lẽ và sức mạnh

Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2015

Tặng quà: phải giống như thi trạng nguyên!


Năm Hồng Vũ thứ 10 nhà Minh, Hoàng đế Chu Nguyên Chương tổ chức mừng thọ 50 tuổi và mừng 10 năm khai quốc. Ngài hạ chỉ, yêu cầu tổ chức mấy cái lễ này không được quá phô trương, quà mừng thọ cũng chỉ cần đơn giản.


Ảnh: Chu Nguyên Chương (chôm từ Wikipedia)
Viên cận thần của ngài là Lý Tiến nghe ý chỉ liền can: “Hoàng thượng làm như vậy, e rằng sẽ khiến bá quan khó xử”.

Chu Nguyên Chương không hiểu, liền hỏi nguyên do. Lý Tiến thưa: “Bởi vì bá quan lo rằng, nếu quà chúc thọ cho Hoàng thượng mà quá khinh bạc thì sẽ phụ lòng thánh quân, coi thường thiên uy. Và bọn họ còn lo lắng, nếu quà mừng của mình quá khinh bạc trong khi các quan quân khác có quà tặng trịnh trọng hơn thì biết làm thế nào?”

Thấy Chu Nguyên Chương gật gù, Lý Tiến nói tiếp: “Tặng quà giống như thi trạng nguyên vậy. Quần thần phải suy đoán về sở thích của Hoàng thượng, thi thố với nhau để giành được tiếng thơm. Vì vậy, Hoàng thượng càng đề xướng sự đơn giản, thì bọn họ càng cảm thấy khó xử mọi bề, thậm chí là đứng ngồi không yên. Cuối cùng họ sẽ không biết phải tặng quà gì chúc thọ Hoàng thượng”.

Chu Nguyên Chương nghe ra, liền sai Lý Tiến soạn một đạo thánh chỉ, ban bố khắp trong triều ngoài nội: “Lễ chúc thọ phải được thực hiện tiết kiệm, đơn giản hết sức, nghiêm cấm phô trương. Quan lại nếu đến chúc thọ thì giá trị quà tặng không được vượt quá 10 lượng bạc. Các quan từ thất phẩm trở xuống chỉ cần tặng lời chúc và vải vóc là được. Các quan văn võ từ tam phẩm, ngoài việc tặng lời chúc và vải vóc, còn phải dâng một bản tấu tự soi xét lại quá trình đi theo Hoàng thượng đến nay, như làm tướng có trung dũng hay không, làm thần tử có liêm khiết không, làm quan có tuân theo pháp luật hay không, làm người có hợp với đạo thánh hiền hay không”.

Đến ngày đại lễ, bá quan văn võ thi nhau dâng lên Chu Nguyên Chương những lời hoa mỹ. Ai nấy đều chúc Hoàng đế nhà Minh “thiên thu cát tường, vạn thọ vô cương”, chúc đại nghiệp nghìn năm của Đại Minh thế lày, thế lọ, thế chai.

Chu Nguyên Chương rất đẹp lòng, truyền bày tiệc để vui thú với các quan. Vua tôi nhà Minh thi nhau uống, chén chú chén anh, phê lòi cả mắt. Lễ mừng thọ diễn ra theo đúng như ý chỉ của Chu Nguyên Chương, tuyệt nhiên không có chuyện bày vẽ phô trương, quà cáp lỉnh kỉnh. Vua tôi trên dưới ai nấy đều rất hỉ hả.

Nhưng sau đó, mọi sự diễn ra không giống như những lời chúc mà triều thần nhà Minh dâng lên cho hoàng đế của họ. Chu Nguyên Chương chỉ làm vua thêm được 20 năm thì lên nóc tủ ngắm hoa vạn thọ, còn cơ nghiệp Đại Minh mà ngài khổ công gây dựng và mong muốn truyền đến thiên thu cũng chỉ tồn tại chưa đến 280 năm thì bị người Mãn Thanh xút cho tung cmn đít.

Thế mới hay, việc chúc tụng mà không đi liền với quà cáp này nọ là không ăn thua. Lời chúc dẫu có hay đến đâu mà chỉ đi với nước bọt suông thì cũng khó lòng mà trở thành hiện thực được.

Bởi thế nên, những người làm vua có nhẽ cũng nên trông vào bài học của Chu Nguyên Chương mà điều chỉnh việc tổ chức các loại lễ lạt thế nào cho phải nhẽ. Tốt nhất là đừng bày vẽ cấm cản hay định hướng cho bá quan trong việc biếu xén làm chi, bởi như vậy vừa khiến người ta khó xử, mà cuối cùng tác dụng “thiên thu” hay “vạn thọ” cũng chẳng được đâu vào với đâu.

Thứ Tư, 23 tháng 7, 2014

Truyện Thạch Sanh của Tầu


Vua nước Trịnh muốn choảng nước Hứa, liền bày ra một cuộc duyệt binh để biểu dương sức lực. Vua sai chế ra một lá cờ bằng gấm mỗi bề dài một trượng hai, cán cờ dài hơn ba trượng, cắm trên một cỗ xe rất lớn, truyền rằng nếu ai cầm nổi cây cờ ấy đi lại hai vòng thì được lãnh chức tiên phong và thưởng cho một cỗ lộ xa.

Lệnh vừa ban ra thì một viên tướng tên là Hà Thúc Doanh bước ra cất giọng sang sảng: “Tôi tuy tài hèn, cũng xin đảm đương việc ấy”. Nói rồi xốc đến hai tay nâng cán cờ, đi lại ba vòng rồi cắm vào chiếc xe như trước. Quân sĩ vỗ tay reo hò ầm ĩ.

Hà Thúc Doanh tiến đến tạ ơn vua Trịnh để lãnh thưởng thì một viên tướng khác là Dĩnh Khảo Thúc nhảy ra nói lớn: “Cầm cờ mà đi việc ấy đâu có lạ. Tôi có thể cầm cờ mà múa nữa kia!”. Dứt lời, bước tới xắn tay áo nhổ cán cờ lên múa tít như múa một cây trường thương. Ai trông thấy cũng phải kinh ngạc, tấm tắc khen thầm.

Vua Trịnh mừng rỡ, kêu Dĩnh Khảo Thúc nói: “Khanh quả là một hổ thần, đáng lãnh ấn tiên phong và được thưởng chiếc lộ xa”.

Nhưng vua Trịnh vừa dứt tiếng thì lại có một chàng thanh niên mặt trắng như dồi phấn, môi đỏ tựa thoa son, bước tới chỉ Dĩnh Khảo Thúc nói lớn: “Hãy khoan lấy xe! Ta đây lại chẳng múa nổi cây đại kỳ hay sao?”. Dứt lời, nhảy đến giật cây cờ, nhưng Dĩnh Khảo Thúc đã lanh lẹ một tay cầm cờ, một tay lôi chiếc lộ xa, chạy như gió.

Chàng thanh niên đuổi theo nhưng không kịp, đành phải trở lại, mặt giận hầm hầm, miệng lẩm bẩm: “Được, ta cứ để cho ngươi khinh ta. Rồi đây ngươi sẽ thấy”. Chúng trông ra thì thấy chàng thanh niên đó là Công Tôn Át, một viên tướng đẹp trai mà vua Trịnh rất yêu vì.

Vua Trịnh thấy vậy, kêu Công Tôn Át đến nói: “Hai cọp tranh nhau, kết quả sẽ không hay. Ta đã có cách phân xử”. Nói xong sai lấy một chiếc lộ xa khác thưởng cho Công Tôn Át và Hà Thúc Doanh, đoạn truyền tiến binh vây thành nước Hứa.

Nước Hứa tuy nhỏ, thành luỹ không chắc, nhưng nhờ vua nước Hứa rất nhân từ nên cả nước đều mến yêu, đồng tâm cố thủ. Quân Trịnh khó bề phá thành nổi.

Dĩnh Khảo Thúc muốn lập công nên nỗ lực xông đến trước vòng vây, tay cầm cờ, tay cầm trường thương nhảy phóng lên mặt thành.

Công Tôn Át trông thấy, sợ Dĩnh Khảo Thúc đoạt được công lao, bèn lắp tên bắn lén một phát. Dĩnh Khảo Thúc trúng tên, té nhào xuống đất, bỏ mạng.


Dĩnh Khảo Thúc nhảy lên thành nước Hứa, thét gọi quân Trịnh tiến công
Hà Thúc Doanh tưởng Dĩnh Khảo Thúc bị giặc bắn, bèn lướt đến giật cây cờ, nhảy lên mặt thành hô lớn: “Chúa công ta đã lên mặt thành rồi!”

Quân Trịnh ngỡ thật, đua nhau nhảy lên, phá vỡ cửa thành. Vua nước Hứa thấy vậy liền bỏ thành chạy trốn.

Vua Trịnh về đến nước, lòng buồn bã thương tiếc Dĩnh Khảo Thúc khôn cùng nhưng nghĩ mãi cũng không rõ ai đã bắn chết Dĩnh Khảo Thúc, bèn truyền cho quân sĩ, cứ một trăm người nạp một con heo, hai mươi người nạp một con gà để làm lễ tế Dĩnh Khảo Thúc. Vua lại cho vời các đồng cốt đến để đọc văn nguyền rủa kẻ đã bắn chết Dĩnh Khảo Thúc. Công Tôn Át chỉ bịt miệng cười thầm.

Lễ nguyền rủa cử hành được ba ngày thì bỗng có một người đầu bù tóc rối, chạy đến trước mặt vua Trịnh quỳ tâu: “Tôi là Dĩnh Khảo Thúc, khi đánh nước Hứa, nhảy lên mặt thành, bị tên gian thần Công Tôn Át hiềm việc giành xe, nên đã bắn lén tôi. Tôi đã xin Ngọc hoàng Thượng đế bắt nó đền mạng. Xin Chúa công thấu rõ ẩn tình, thì dầu ở dưới suối vàng, hồn tôi cũng được an ủi”.

Nói xong, kẻ ấy lấy tay móc họng, máu tuôn lai láng, rồi ngã xuống đất chết lập tức. Vua Trịnh thất kinh, xem lại thì đó không phải người đàn bà mà lại là Công Tôn Át, liền cho người cứu chữa nhưng đã muộn.

Từ chuyện của Dĩnh Khảo Thúc và Công Tôn Át, các thím tự có thể rút ra cho mình một vài bài học để lận lưng. Trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt mà Lý Thông bao giờ cũng nhiều hơn Thạch Sanh này, các thím đừng ngây thơ mà nghĩ rằng hễ cứ có tài năng, có nhiệt huyết như Dĩnh Khảo Thúc thì sẽ thành công, bởi bên cạnh mỗi chàng Dĩnh Khảo Thúc bao giờ cũng có một hoặc nhiều, thậm chí rất nhiều Công Tôn Át. Mà cũng giống như những gì xảy ra trong truyện Thạch Sanh các thím đã từng đọc, những kẻ như Công Tôn Át thì không bao giờ chịu để yên cho Dĩnh Khảo Thúc được nhận phần hơn.

Chính vì vậy, nếu cảm thấy quanh mình vẫn còn những kẻ như Công Tôn Át mà không có cách gì trị lại, thì tốt nhất các thím hãy cứ yên phận mà làm chàng tiều phu quanh quẩn ở gốc cây đa, đừng có cố chi cái việc trở thành người hùng cứu công chúa, hay lăm le chi cái mộng chém tướng đoạt thành. Bởi nếu không thì trước sau các thím cũng bị bắn trộm như Dĩnh Khảo Thúc hoặc bị nhốt dưới hang mãng xà như chàng Thạch Sanh tội nghiệp.

Tuy nhiên, ở khía cạnh ngược lại, các thím cũng đừng vì thấy rằng Thạch Sanh thường chịu phần thiệt mà lại muốn “vươn lên” để trở thành Lý Thông. Từ việc của Công Tôn Át, không khó để các thím nhận ra rằng, những lời nói ngả nghiêng của người đời tuy chưa chắc đã làm cho lòng ai từ kiềng 3 chân biến thành 2 hoặc 1 chân, nhưng nếu các thím cứ vì thế mà làm những việc khiến thế nhân nguyền rủa thì cái hoạ bất đắc kì tử ập đến cũng chưa biết lúc nào.

Và nữa, các thím có thể tự nghĩ rằng “tui đẹp, tui có quyền”, nhưng xin các thím hãy nhớ cho kĩ, những kẻ tuy bề ngoài đẹp đẽ nhưng lòng dạ đen tối như Công Tôn Át thì dẫu đẹp thế chứ đẹp nữa cũng chẳng để làm cái gí đèo, bởi trước sau cũng trở thành mục tiêu cho người đời nguyền rủa mà thôi.

Thứ Hai, 5 tháng 5, 2014

Khánh Kỵ và Yêu Ly


Công tử Khánh Kỵ là con trai của Vương Liêu, vua nước Ngô thời Xuân Thu. Bấy giờ nước Ngô và nước Sở đang giao tranh, Khánh Kỵ được sai đi sứ nước ngoài để mượn quân đánh Sở.

Khánh Kỵ đi vắng, một người anh họ của Vương Liêu là công tử Quang ở nhà lừa giết chết Vương Liêu rồi đem quân ra ngoài cõi đón bắt Khánh Kỵ.

Khánh Kỵ trở về, nghe tin vua cha bị giết thì tức khắc quay xe bỏ trốn. Công tử Quang phi ngựa đuổi theo, Khánh Kỵ bỏ xe nhảy xuống đất chạy nhanh như bay, ngựa đuổi theo không kịp. Công tử Quang sai quân sĩ giương cung bắn, Khánh Kỵ giơ tay bắt lấy mũi tên, không phát nào vào mình cả. Công tử Quang biết không bắn được, đành rút quân về, tự lập làm vua nước Ngô, lấy hiệu là Hạp Lư.

Khánh Kỵ trốn sang nước khác, chiêu nạp hào kiệt, liên kết với lân quốc, chờ thời cơ báo thù. Hạp Lư được tin thì lấy làm lo lắng, sai tìm người trí dũng để giết Khánh Kỵ. Tể tướng nước Ngô là Ngũ Tử Tư liền tiến cử một người tên là Yêu Ly, nói rằng người này có sức khoẻ địch nổi muôn người.

Hạp Lư nghe nói, cho triệu Yêu Ly đến, nhưng trông thấy Yêu Ly hình thù thấp bé, mặt mũi xấu xí thì có ý không bằng lòng. Hạp Lư nói với Yêu Ly: “Khánh Kỵ sức khoẻ như voi, chạy nhanh hơn ngựa, ta e rằng nhà ngươi không địch nổi!”

Yêu Ly nói: “Giết được người ta, cốt ở trí khôn, không ở sức khoẻ. Tôi được đến gần Khánh Kỵ thì giết hắn như cắt tiết con gà mà thôi”.

Hạp Lư nói: “Khánh Kỵ là người tài trí, vẫn hay chiêu nạp những kẻ vong mệnh[1] ở bốn phương, thấy nhà ngươi là người khách ở nước Ngô đến, khi nào lại quá tin mà cho nhà ngươi đến gần?”

Yêu Ly nói: “Khánh Kỵ đã hay chiêu nạp những kẻ vong mệnh, định mưu hại nước Ngô, thì tôi xin giả cách làm một người có tội trốn đi. Xin đại vương hãy giết vợ con tôi, chặt cánh tay phải của tôi. Khánh Kỵ tất phải tin tôi mà cho đến gần, như thế mới có thể nên việc được!”

Hạp Lư nghe theo kế ấy, giả cách kiếm cớ trách tội Yêu Ly, sai chặt cánh tay phải đi rồi truyền giam vào ngục, lại còn sai bắt giam cả vợ con của Yêu Ly nữa. Một bữa, Ngũ Tử Tư sai lính canh ngục khoản đãi Yêu Ly. Yêu Ly thừa cơ lẻn trốn, rồi chạy ra ngoài cõi, yết kiến Khánh Kỵ.

Khánh Kỵ ban đầu còn nghi ngờ, nhưng khi thấy Yêu Ly bị cụt cánh tay phải, lại nghe quân do thám về báo vợ con Yêu Ly đã bị hành hình giữa chợ, thì mới tin dùng Yêu Ly.


​​Ảnh: Yêu Ly (giữa) mời Khánh Kỵ ra ngồi ở mũi thuyền
Yêu Ly xui Khánh Kỵ đem quân về đánh nước Ngô. Khánh Kỵ nghe lời, truyền tiến quân theo dòng sông mà sang đánh nước Ngô.

​​​​​Khánh Kỵ và Yêu Ly cùng ngồi một thuyền. Khi đi đến giữa dòng, Yêu Ly mời Khánh Kỵ ngồi lên mũi thuyền để chỉ huy quân sĩ. Khánh Kỵ nghe theo, lên ngồi ở mũi thuyền.

Yêu Ly chỉ có một tay, cầm ngọn giáo ngắn đứng hầu nhưng bất ngờ đâm một giáo vào bụng Khánh Kỵ, xuyên ra tận sau lưng. Khánh Kỵ xách ngược Yêu Ly lên, dìm đầu xuống nước ba lần, rồi lại ẵm lên để lên trên đầu gối, cúi nhìn mà cười và bảo rằng: “Thiên hạ lại còn có kẻ dũng sĩ này dám cả gan đâm ta!”

​​​​​Quân sĩ toan xúm lại đâm Yêu Ly nhưng Khánh Kỵ gạt đi mà bảo rằng: “Người này là dũng sĩ! Chớ nên trong một ngày để chết hai dũng sĩ của thiên hạ. Đừng giết hắn làm gì, nên tha cho hắn về Ngô để tỏ lòng trung của hắn!”

Khánh Kỵ đẩy Yêu Ly xuống dưới chân, rồi giơ tay rút ngọn giáo ra. Máu chảy như xối, Khánh Kỵ chết.

Yêu Ly nói: “Ta vì đạo thờ vua mà giết cả vợ con, thế là bất nhân; vì vua mới mà giết con vua cũ, thế là bất nghĩa; nên việc cho người mà đến nỗi tàn hại cả thân thể, cả vợ con, thế là bất trí. Đã phạm ba điều ấy, còn mặt nũi nào mà đứng trên cõi đời nữa! Dẫu công tử tha ta, ta cũng không tham sống làm gì”.

Yêu Ly nói xong, liền đâm đầu xuống sông. Người lái thuyền lại vớt Yêu Ly lên. Yêu Ly hỏi: “Nhà ngươi vớt ta làm gì?”

Người lái thuyền nói: “Nhà ngươi về nước, tất được tước lộc, sao lại không về?”

Yêu Ly nói: “Đến vợ con và tính mệnh ta cũng còn không tiếc huống chi là tước lộc. Các ngươi đem xác ta về Ngô mà lấy trọng thưởng”. Nói xong, giật lấy thanh kiếm của người đứng bên, chặt bỏ chân đi, rồi tự đâm cổ mà chết.

Về sau, tên của Khánh Kỵ và Yêu Ly được một ca sĩ nước Nam là Nguyễn Thị Lệ Mai ghép lại làm nghệ danh, gọi là Khánh Ly. Mặc dù Khánh Ly không giải thích vì sao lại muốn tên mình gắn với hai dũng sĩ sát thủ này, nhưng có thể nhận thấy, những bài mà Khánh Ly hay hát, đặc biệt là những bài do Trịnh Công Sơn sáng tác, thường chất chứa nhiều điều u uất, nhiều mâu thuẫn giằng xé không giải quyết được. Điểm này có phần giống như bi kịch về cuộc đời của Khánh Kỵ, Yêu Ly và cuộc đấu một mất một còn giữa bọn họ.

Đặc biệt, giọng hát Khánh Ly có một sức mạnh “giết người” ghê gớm. Chính vì vậy, những người đang ở trong tâm trạng sầu não, buồn chán thường được khuyến cáo không nên nghe Khánh Ly hát, bởi nếu không thì khả năng làm những chuyện dại dột rất dễ xảy ra.[2]

-----
[1] Kẻ vong mệnh: người có tội đi trốn
[2] Anh bịa đấy, các thím đừng tin! Hehe

Thứ Tư, 9 tháng 4, 2014

Nói cái chuyện ông cố tổ


1. Xưa bà Trưng Thị Diễm Trắc thề “Một xin rửa sạch nước thù. Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng”. Thế mà cơ nghiệp của họ Hùng rốt cục cũng chỉ truyền ở nước Văn Lang được 18 đời, và ngày nay tìm cả nước chẳng thấy ông nào họ Hùng cả. Oái oăm thế nào, sách Tàu lại bảo rằng vua nước Sở bên Tàu là người họ Hùng. Lẽ nào Hùng Vương thứ 19 lại di cư sang bên Tầu làm tổ tiên của người Sở?

2. Xưa nước Giao Chỉ có hai bà họ Trưng là Trưng Thị Diễm Trắc và Trưng Thị Diễm Nhị anh dũng đứng lên chống lại ách đô hộ của người Hán. Nay tìm cả nước chẳng thấy bà nào mang họ Trưng nữa. May thay có một người có họ gần giống với Hai Bà, đó là cô Tưng Thị Huyền Anh (aka Bà Tưng). Thế mà người ta nỡ xúm vào vùi dập cô ấy không thương tiếc. Nghĩ xót!

3. Đọc sách Tàu thấy hầu như mấy họ lớn của nước mình đều có ở bên Tàu cả, và hầu như họ nào cũng có người làm nên ông này ông nọ. Duy mỗi họ Nguyễn của em, tìm mãi chỉ thấy có 3 anh em Nguyễn Tiểu Thất, Nguyễn Tiểu Ngũ và Nguyễn Tiểu Nhị làm nghề đánh cá ở thôn Thạch Kiệt, về sau theo ông Tiều Cái lên Lương Sơn Bạc làm tặc khấu. Thế có nhọ em không!

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

Tết hàn thực


​Công tử Trùng Nhĩ nước Tấn là người có tài đức, nhưng bị mẹ kế hãm hại nên phải trốn sang nước khác lánh nạn. Bề tôi nước Tấn nhiều người yêu mến Trùng Nhĩ, cũng bỏ hết quan tước mà đi theo. Trong đám ấy có một người tên là Giới Tử Thôi.

Trên đường đi trốn, có lần Trùng Nhĩ hết lương không có gì ăn, Giới Tử Thôi bèn cắt thịt đùi mình nấu cháo dâng cho Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ ứa nước mắt nói: “Ơn này biết bao giờ đền lại được!”. Giới Tử Thôi thưa: “Tôi chỉ mong công tử về được nước Tấn, ấy là trọn cái đạo thần tử của tôi, khi nào dám mong được đền ơn”.

Phiêu bạt khắp các nư​​ớc chư hầu, cuối cùng Trùng Nhĩ và đám tòng vong đến nước Tần. Vua Tần mến tài của Trùng Nhĩ, bèn sai binh tướng hộ tống Trùng Nhĩ về nước Tấn và lập làm vua, hiệu là Tấn Văn công.

Tấn Văn công ban thưởng cho những người có công phục quốc, bọn tòng vong được xếp công đầu[1]. Nhà vua lại ban một tờ chiếu treo ở cửa thành, viết rằng nếu người nào có công lao mà chưa được thưởng thì cho phép tự nói ra.

Giới Tử Thôi nghĩ Tấn Văn công là người hiền, được lên ngôi vua là do ý trời chứ chẳng phải bởi ai giúp đỡ. Lại thấy bọn tòng vong có nhiều kẻ khoe công để lĩnh thưởng thì lấy làm khinh bỉ, không muốn ở lẫn với bọn ấy nên cáo ốm về nhà, yên phận nghèo khổ, đi khâu giày thuê lấy tiền nuôi mẹ già.

Bà mẹ biết Giới Tử Thôi là người liêm sỉ, bèn khuyên con rời bỏ kinh thành, tìm nơi rừng núi mà ẩn thân. Giới Tử Thôi mừng lắm, liền cõng mẹ lên núi, làm nhà trong hang mà ở.

Láng giềng​ ​của​ ​Giới Tử Thôi biết chuyện,​ liền viết một bức thư dâng cho Tấn Văn công, kể rõ sự tình. Tấn Văn công đọc thư​ thì​ giật mình​,​ sai người láng giềng đưa đường​ ​lên núi để tìm Giới Tử Thôi.​

Tìm mấy ngày trời mà không thấy tông tích Giới Tử Thôi, Tấn Văn công bèn sai phóng hoả đốt rừng. “Ta nghe nói Tử Thôi là người chí hiếu, nếu ta đốt khu rừng này đi thì y tất phải cõng mẹ chạy ra” - vua nghĩ.

Lửa cháy 3 ngày mới tắt, nhưng Giới Tử Thôi nhất định không ra. Quân lính tìm được bộ xương 2 mẹ con Giới Tử Thôi ôm nhau chết dưới gốc cây liễu. Hôm ấy đương là tiết thanh minh mồng 3 tháng 3.

Tấn Văn công trông thấy đống xương thì động lòng ứa nước mắt, truyền đem chôn ở chân núi rồi lập miếu thờ. Người đời sau thương Giới Tử Thôi chết cháy, nên đến ngày mồng 3 tháng 3 không nỡ đốt lửa mà chỉ làm sẵn lương khô để ăn, gọi là tết Hàn thực, nghĩa là ngày hôm ấy cấm lửa, chỉ ăn đồ nguội. Vào tết Hàn thực, nhà nào cũng cắm cành liễu ngoài cửa để chiêu hồn Giới Tử Thôi, cũng có nhà làm cỗ và đốt giấy để cúng tế.

Câu chuyện về Giới Tử Thôi đã cho thấy hai năm đã rõ mười tết Hàn thực không phải là của người Việt Nam. Chính vì vậy nên nếu nhằm ngày này mà ai không được ăn bánh trôi Tàu thì cũng không việc gì phải xoắn, bởi dù gì thì ông Giới Tử Thôi cũng chẳng phải là người Việt Nam, chẳng có công lao gì đối với tổ tiên ta để đến nỗi ngày nay chúng ta phải cúng tế. Bánh trôi thì cũng là “Tàu” nốt chứ chẳng phải là của người Việt.

Tuy nhiên, từ câu chuyện của Giới Tử Thôi, hậu thế dù là Tây, Tàu hay Việt đều có thể tự rút ra cho mình một bài học sâu sắc về lòng tự trọng. Đâu đó trong cuộc sống ngày nay, thiên hạ vẫn thi thoảng bắt gặp những người thành tích chỉ bé bằng con kiến nhưng lại vẽ lên thành cả con voi để rồi đòi hỏi được khen thưởng thế này, thế nọ trong khi còn rất nhiều người có công với nước chưa được đãi ngộ và nhiều người khác ngày ngày hăng say lao động và cống hiến nhưng không hề đòi lấy một tấc công trạng. Ghê tởm hơn, có những kẻ vì hám danh, hám lợi đã không ngần ngại cướp đoạt công lao của người khác làm công lao của mình, mà gần đây nhất là một kẻ được phong danh hiệu Anh hùng nhưng sau đó bị phát hiện là cướp công của đồng đội[2] hoặc một số kẻ khác táng tận lương tâm kiếm tiền trên xương máu của các thương binh, liệt sĩ[3].

Lẽ đương nhiên, cái kim trong bọc lâu ngày thì cũng phải tòi ra. Nên thủ đoạn của những kẻ mạo nhận công lao hoặc cướp công người khác trước sau cũng bị phát giác và lên án, thậm chí trừng phạt. Tuy nhiên, ví thử cái kim có thể tự biến mình từ nhọn thành tày để nằm im trong bọc, hoặc giả người đời có đủ lòng mề để bao dung cho những “anh hùng mạo nhận” hoặc những kẻ đánh cắp công lao thì thiết nghĩ, các anh-hùng-kẻ-cắp này cũng nên tìm đường lên núi mà ở ẩn như Giới Tử Thôi, dù cho so với nhân cách của ông thì họ còn chẳng đáng được gọi là người. Hoặc giả, nếu các “anh hùng” có đủ dũng khí để tự thiêu thì chắc là người đời cũng không đến nỗi hẹp hòi mà nỡ trách họ đã đốt đi một vài gánh củi.

Xem thêm: Khuất Nguyên và ngày mùng năm tháng năm

-----
[1] Tấn Văn công chia những người có công phục quốc thành 3 hạng: một là những người tòng vong; hai là những người tống khoản; ba là những người nghênh hàng. Trong bọn tòng vong, người nào khuyên làm điều nhân nghĩa thì là công đầu; người nào bàn mưu lập kế thì là công thứ hai; người nào xông pha mũi tên hòn đạn thì là công thứ ba; còn những người chỉ có công theo hầu khó nhọc thì xếp cuối cùng.
[2] Tay này cùng họ với bà Chúa thơ Nôm, vốn là một viên quan đầu tỉnh, đã nghỉ hưu.
[3] Phiền các thím vào Google tìm giúp anh cái từ khoá “làm giả hồ sơ thương binh” hoặc “cậu Thuỷ” phát! Anh lười tìm quá!

Thứ Ba, 18 tháng 3, 2014

Ukraina và vấn đề của các dân tộc nhược tiểu


Tiến sĩ Dũng lại lên tiếng. Lần này là về vấn đề Ukraina và Krym.

Vấn đề bán đảo Krym của Ukraina vốn đã thu hút được sự quan tâm của cả thế giới trong mấy tuần gần đây, chứ chẳng riêng gì với tiến sĩ Dũng.

Nhưng tiến sĩ Dũng thì có quan điểm “hẳn hoi” về vấn đề này. Ông tiến sĩ tỏ ra rất tiếc nuối về những gì mà người Ukraina đã lựa chọn. Theo ông Dũng, nhẽ ra người Ukraina đã có thể có sự lựa chọn khác để tránh được tình cảnh hiện nay mà họ đang phải gánh chịu.

À, đương nhiên là ông Dũng đã lí sự đúng, và ông này tỏ ra là người nắm khá vững nguyên lí của phép biện chứng, bởi rõ ràng là, nhân nào thì đi với quả ấy. Nếu người Ukraina ban đầu đã lựa chọn “nhân” như ông Dũng nói thì “quả” ngày nay mà họ hái được (chắc là) cũng sẽ giống (hoặc gần giống) với những gì ông Dũng hình dung.

Nhưng ông Dũng đã lựa chọn như thế nào?

Ông Dũng cho rằng, Ukraina là nước có địa chính trị đặc biệt với vị trí nằm kẹt giữa Nga và Châu Âu và dân cư không đồng nhất, mà trong đó nửa phía Đông muốn ngả theo Nga, còn nửa phía Tây muốn ngả theo các nước Tây Âu.

​​​​Một nước có địa chính trị và thành phần dân cư khác biệt như vậy thì đích thị là cách thức quản lí cũng sẽ không giống như những nước bình thường. Nhưng liệu cách quản lí một nước như Ukraina có phải, và có nên như những gì ông Dũng nghĩ ra?

Ông Dũng nghĩ rằng, với hoàn cảnh của mình, người Ukraina nhẽ ra nên đi theo con đường trung lập, nghĩa là không nên ngả về phía Nga, cũng không nên ngả về phía phương Tây. Trong một phương án khác “có độ rủi ro cao hơn” nhưng “vẫn đúng đắn”, ông Dũng cho rằng, người Ukraina nhẽ ra đã nên đứng ra “làm cầu nối” giữa Nga và phương Tây để “tạo điều kiện cho sự trao đổi, hợp tác” giữa bọn họ (Nga và Châu Âu).

​​Ông Dũng nói quá hay! Và nếu người Ukraina làm được như ông Dũng nói thì có lẽ mấy tuần nay các hãng thông tấn đã chẳng có gì mà đưa tin về bán đảo Krym hay đất nước Ukraina. Nghĩa là, Krym vẫn sẽ là một phần của Ukraina, và Ukraina vẫn là một đất nước yên bình và thân thương như trong kí ức của nhiều người Việt Nam đã từng được gửi sang học tập hoặc lao động ở đó.

Nhưng ông Dũng quên mất một điều rằng, người Ukraina, cũng như người Krym hay bất kì một dân tộc nhược tiểu nào khác, thường không tự quyết định được tương lai của chính mình mà phải phụ thuộc vào những nước lớn hơn có lợi ích gắn với họ.

Nếu chăm đọc sách Tàu, hẳn ông Dũng sẽ thấy, Ukraina hiện nay chẳng khác gì nước Trịnh thời Xuân Thu. Thủa ấy, nước Trịnh nằm lọt thỏm giữa các cường quốc luôn ôm mộng xưng bá như Tề, Tấn và Sở. Nếu người Trịnh thần phục nước Sở, thì ngay lập tức sẽ bị nước Tề hoặc nước Tấn “hưng binh vấn tội”. Nhưng nếu người Trịnh thần phục nước Tấn hoặc nước Tề thì người Sở cũng chẳng chịu để yên. Tình cảnh của nước Trịnh lúc đó thật chẳng khác nào một bà quả phụ muốn thủ tiết với người chồng quá cố giữa hai gã hàng xóm lúc nào cũng hừng hực khí thế yêu đương.

Nhưng vì sao nước Trịnh phải ra nông nỗi như vậy? Cái đó thì quá dễ hiểu, bởi vì họ có “địa chính trị” quan trọng, nghĩa là vị trí địa lí của họ có thể giúp ai đó trong các nước ôm mộng bành trướng kia mưu cầu được những lợi ích nhất định cho công cuộc đồ bá của mình. Hẳn nhiên, nếu nước Trịnh là một bãi phân chó giữa đường thì người Tấn, người Sở, hay người Tề sẽ chẳng rỗi hơi mà đi tranh giành ảnh hưởng đối với nước Trịnh làm chi. Và hẳn nhiên, người Trịnh dù có giỏi đến mấy thì cũng không tài nào thuyết phục các nước Tấn, Tề, Sở hãy tự đánh lộn lẫn nhau để xưng bá mà chừa nước Trịnh ra.

Và hoàn cảnh bi đát của các nước nhược tiểu cũng có thể được hình dung rất rõ nếu ông Dũng liên hệ với lịch sử của 3 nước cộng hoà vùng Baltic là Latvia, LitvaEstonia thời Chiến tranh thế giới lần thứ 2. Vào thời điểm đó, 3 nước nhỏ bé này muốn theo Liên Xô cũng không được, theo Đức cũng chẳng xong, bởi lẽ muốn theo bên này thì lại phải chống lại bên kia (và lúc nào cũng sẵn sàng được mời xơi kẹo đồng thay cơm). Tình cảnh của họ bấy giờ cũng từa tựa như tình cảnh ngày nay của người Krym, hay người Ukraina vậy.

Thế thì, có thể thấy gì từ bài viết của ông Dũng? Có thể là một bộ óc siêu phàm nào đó sẽ rút ra được điều gì bổ ích từ những lựa chọn mà ông Dũng đề xuất. Nhưng cá nhân tôi thì thấy, những gì ông Dũng nói thực ra cũng chỉ để đăng báo mà thôi, không hơn không kém. Nếu làm được như ông Dũng nói, hẳn người Ukraina cũng đã cố làm. Chẳng gì, Ukraina cũng đã từng một thời đào tạo cho Việt Nam không ít các nhà quản lí, kinh tế, khoa học, thậm chí cả công nhân, lẽ nào họ không nghĩ ra được những lí lẽ hiển nhiên như ông Dũng đã nghĩ(?!)

Cái khó của người Ukraina là, làm thế nào để thuyết phục người Nga hoặc người phương Tây từ bỏ ý định tranh giành ảnh hưởng của mình trên lãnh thổ của họ? Điều này thì chưa thấy ông Dũng đề cập trong bài viết của mình. Những gì cô đọng nhất mà người đọc có thể tìm thấy trong bài viết của ông Dũng, có lẽ là “bài học” mà ông Dũng đưa ra ở phần cuối bài viết. Ông Dũng cho rằng, người Ukraina bằng sự lựa chọn của mình, đã phải “trả giá thay cho các dân tộc khác, trong đó có dân tộc chúng ta”.

Nhưng ông Dũng lại quên rằng, đã có một thời chúng ta đứng được hẳn ra bên ngoài sự tranh giành của các cường quốc trong công cuộc đồ bá thiên hạ, ấy là thời Tam quốc. Thời ấy nước ta dưới tên gọi là quận Giao Chỉ, được cai trị bởi một viên thái thú là Sĩ Nhiếp. Tuy là một chức quan do người Hán đặt ra, nhưng Sĩ Nhiếp, bằng sự khôn khéo của mình, đã tránh cho quân dân Giao Chỉ không vương vào sự giành giật của các chư hầu để đuổi bắt “con hươu” của nhà Hán. Cũng chính vì thế mà Sĩ Nhiếp vẫn giành được mối thiện cảm của dân ta mà chẳng cần học tí nào từ chuyện của người Ukraina.

Lẽ đương nhiên, Sĩ Nhiếp không phải là ông Yunakovich hay bà Tymoshenko, và tình thế của quận Giao Chỉ thời Sĩ Nhiếp cũng khác tình thế của Việt Nam hay Ukraina ngày nay. Nhưng nếu như đã từng có một thời người Giao Chỉ làm được những gì mà người Ukraina không thể làm, thì nên chăng, chúng ta đừng học cái bài của Ukraina nữa mà học luôn cái bài của Sĩ Nhiếp cho nó nhanh?

Xem thêm: Giá đắt đỏ là cái gí đèo?

Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Đằng sau một người đàn ông thất bại là một người đàn bà xúi dại


​​Bách Lý Hề là người nước Ngu, học giỏi nhưng nhà nghèo, ngoài ba mươi tuổi mới lấy nàng Đỗ thị làm vợ, sinh đặng một người con trai. Trong cảnh túng thiếu, Bách Lý Hề muốn đi lập công danh, song vợ con đơn độc, không biết nhờ cậy ai, vì vậy cứ quyến luyến mãi, không nỡ dứt tình.

Đỗ thị thấy vậy thưa: “Thiếp nghe nói làm trai phải lập chí, nay phu quân không tìm công danh, cứ vướng bận gia đình, biết bao giờ làm lên đại sự. Phận thiếp tuy yếu đuối nhưng cũng có thể kiếm ăn được, xin phu quân đừng ngại”.

Nói xong, Đỗ thị bắt con gà mái ấp làm thịt để tiễn chân Bách Lý Hề. Nhà hết củi, Đỗ thị phải bẻ phên làm củi, nấu một nồi cơm gạo đỏ bưng cho Bách Lý Hề ăn.

Bách Lý Hề ăn no, từ giã vợ con ra đi. Đỗ thị tay ẵm con, tay níu áo chồng, trối: “Lúc phú quý xin chớ phụ nhau!”

Bách Lý Hề phiêu du qua nhiều nước nhưng vì không có ai tiến dẫn nên vẫn không có đường tiến thân, lắm lúc cùng quẫn phải đi ăn xin qua ngày. Cuối cùng, Bách Lý Hề lưu lạc đến nước Sở, làm người chăn ngựa cho vua Sở.

Vua nước Tần là Mục công nghe tiếng Bách Lý Hề là người giỏi, liền sai người mang 5 bộ da dê sang biếu vua Sở xin chuộc lấy Bách Lý Hề về, phong làm tể tướng​​[1]. Năm ấy Bách Lý Hề đã ngoài bảy mươi tuổi.

Trong khi Bách Lý Hề đi vắng, Đỗ thị ở nhà quan hệ bất chính với phó bí thư đảng uỷ xã, ý lộn, đấy là chuyện của chị gì trên Vietnamnet. Đỗ thị ở nhà làm thuê làm mướn để kiếm ăn; sau nghèo khổ quá, không lấy gì cho đủ được, mới đem con lưu lạc sang nước Tần, làm nghề giặt thuê. Đến lúc Bách Lý Hề làm tể tướng nước Tần, Đỗ thị đã nghe tiếng, lại hai ba lần trông thấy ngồi xe đi qua mà không dám nhận.

Bấy giờ trong phủ tể tướng cần người giặt thuê, Đỗ thị liền xin vào làm.

Một hôm, người trong phủ mời phường nhạc vào hát hầu Bách Lý Hề. Đỗ thị nói với người trong phủ là mình cũng biết đàn hát, xin lên nhà trên hát một bài để hầu quan tể tướng. Phường nhạc bẩm với Bách Lý Hề, Bách Lý Hề truyền cho lên. Đỗ thị lên nhà trên, cúi đầu khép nép cất tiếng hát:

“Bách Lý Hề năm bộ da dê!
Nhớ ngày nào cùng nhau ly biệt,
Mổ con gà mái ấp, thổi nổi cơm vàng.
Chừ thương thì thương...
Ngày nay giàu sang, quên ta hay sao?
Bách Lý Hề năm bộ da dê!
Cha ăn thịt cá, con đói khóc dài.
Chồng mặc gấm vóc, vợ giặt thuê hoài!
Chừ thương thì thương...
Ngày nay giàu sang, quên ta hay sao?
Bách Lý Hề, năm bộ da dê!
Nhớ ngày xưa tiễn chàng ra đi,
Thiếp tôi nước mắt chứa chan!
Tới bây chừ, thấy chàng ngồi đó, thiếp tới ruột đứt từng cơn!
Chừ thương thì thương...
Ngày nay giàu sang, quên ta hay sao?”


Bách Lý Hề nghe hát, lấy làm ngạc nhiên, gọi đến trước mặt mà hỏi thì hóa ra vợ mình, liền ôm lấy mà khóc òa. Từ đó vợ chồng cha con lại được sum họp cùng nhau.

Bách Lý Hề là một trong những tể tướng giỏi nhất Trung Quốc thời Xuân Thu. Nhờ có sự phò tá của Bách Lý Hề mà Tần Mục công trở thành bá chủ chư hầu. Kể ra, làm to như Bách Lý Hề mà chịu ôm khư khư một mụ vợ già thì cũng coi là của hiếm.

Ấy thế nhưng lại có một ông quan rất to khác muốn học theo cái bài dùng đồ cổ của Bách Lý Hề, đó là Án Anh. Ông này nổi tiếng là người thông minh, có tài xử thế và ngoại giao rất tốt, được vua nước Tề là Cảnh công dùng làm tể tướng. Cuộc đời Án Anh gắn liền với 2 câu chuyện rất nổi tiếng là tích “Án Anh đi sứ nước Sở” và “Án Anh chia đào”. Nhờ có sự phò tá của Án Anh mà nước Tề dưới thời trị vì của Cảnh công trở nên rất cường thịnh.

Một hôm, Tề Cảnh công đến phủ tể tướng chơi, trông thấy vợ Án Anh, mới hỏi Án Anh rằng: “Đó là nội tử của khanh đấy à?”

Án Anh tâu rằng: “Phải!”

Tề Cảnh công cười mà nói rằng: “Chao ôi! Già mà xấu lắm! Ta có đứa ái nữ, trẻ mà đẹp, để ta gả cho khanh”.

Án Anh mừng rỡ, quỳ xuống lạy tạ Cảnh công rồi nhảy cẫng lên reo hò như điên. Nhưng đấy là chuyện bịa, còn thực tế thì Án Anh nói: “Lúc trẻ trung, người ta lấy mình, là mong lúc già nua có thể nhờ vả được. Vợ tôi dẫu già mà xấu, nhưng khi nào tôi nỡ phụ!”

Tề Cảnh công khen rằng: “Vợ còn chẳng nỡ phụ, huống chi là vua!”

Từ bấy giờ Tề Cảnh công có lòng tin cậy Án Anh lắm.

Tóm lại, đúng như thằng dở hơi nào đó đã nói, “đằng sau một người đàn ông thành đạt bao giờ cũng có bóng dáng của một người phụ nữ”. Nhân ngày 8/3, xin chúc chị em phụ nữ luôn được các ông chồng yêu thương và luôn là cái bóng lừng lững đằng sau sự thành đạt của các đức ông chồng. Trường hợp chị em muốn nhảy lên đứng trước và thành đạt hơn cả chồng thì cũng xin cứ tự nhiên, vì như lời một người cải cách xã hội và có trách nhiệm với sự tiến bộ của phụ nữ là Me xừ Xuân Tóc đỏ đã nói, “cái đó vô hại”.

-----
[1] Vua Tần định dùng lễ vật hậu hĩnh để chuộc Bách Lý Hề nhưng sợ vua Sở sinh nghi mà không cho chuộc, nên chỉ dùng 5 bộ da dê mà thôi. Cũng bởi vì thế, Bách Lý Hề mới được gọi là “Ngũ cổ thượng khanh” (ngũ cổ: năm bộ da dê)

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Nói cái chuyện học sử


Chuyện kể rằng quan tướng quốc nước Tấn là Triệu Thuẫn hay can gián vua nên vua Tấn phật ý, sai người tìm cách giết đi nhưng Triệu Thuẫn may mắn thoát được. Một người em họ của Triệu Thuẫn là viên tướng hầu cận vua liền lập mưu thích sát vua Tấn rồi đón Triệu Thuẫn về.

Triệu Thuẫn về cung, ôm lấy thi thể vua khóc lóc thảm thiết rồi sai đem tống táng, đoạn cùng triều thần lập vua mới để kế vị mà không truy xét kẻ giết vua. Sử quan cho rằng Triệu Thuẫn là kẻ chủ mưu, liền chép vào thẻ: “Mùa thu, tháng bảy, năm Ất Sửu, Triệu Thuẫn giết vua là Di Cao ở Đào Viên”.


Viên tướng hầu cận vua Tấn là em họ của Triệu Thuẫn
Triệu Thuẫn xem thẻ thì giật mình kinh sợ, liền sai sử quan chép lại nhưng sử quan không chịu. Sử quan nói: “Đã gọi là tín sử thì có thế nào phải chép như thế, bởi vậy đầu tôi có thể cắt được, chứ bản thảo này thì không thể chữa lại được”. Triệu Thuẫn thở dài mà than: “Tiếc thay, bấy giờ ta chưa ra khỏi địa giới, để đến nỗi chịu tiếng xấu muôn đời, hối sao cho kịp”.

Lại có một chuyện khác tương tự xảy ra ở nước Tề. Quan tướng quốc nước này là Thôi Trữ có hiềm khích với vua Tề, bèn lập mưu lừa vua đến phủ riêng của mình mà giết đi, rồi sai sử quan chép là vua chết vì bị sốt rét. Viên sử quan tên là Bá, không nghe lời Thôi Trữ, chép vào thẻ rằng: “Ngày Ất Hợi, tháng 5, mùa hạ, Thôi Trữ giết vua là Quang”.

Thôi Trữ nổi giận, giết chết Bá. Bá có ba người em là Trọng, Thúc, Quý. Trọng chép như trước. Thôi Trữ lại giết đi. Thúc cũng chép thế. Thôi Trữ lại giết. Quý lại chép như vậy. Thôi Trữ cầm lấy cái thẻ, bảo rằng nếu Quý chịu chép khác đi thì tha chết cho. Quý nói: “Chép đúng sự thực là chức phận của người làm sử, nếu trái chức phận mà sống thì chẳng thà chết còn hơn!”. Thôi Trữ không làm gì được, đành thở dài mà trả cái thẻ chép sử lại cho Quý.

Quý cầm cái thẻ đi ra, sắp đến cửa sử quán thì gặp một sử quan tên là Thị. Quý hỏi đi đâu, Thị nói: “Ta nghe nói anh em nhà ngươi đều chết cả, sợ bỏ mất cái việc ngày Ất Hợi, tháng 5, mùa hạ mới rồi, vậy nên ta cầm thẻ đến để chép”. Quý đưa cái thẻ của mình chép cho Thị xem, Thị mới cáo từ mà về.

Xem chuyện của Triệu Thuẫn và Thôi Trữ mới thấy, người Tàu rất coi trọng sử sách. Cũng chính vì coi trọng sử sách nên họ rất sợ những chuyện xấu của mình bị ghi vào sách sử, sợ đến đỗi lắm lúc phải tìm cách giết cả sử quan để bịt mồm hậu thế. Nhưng cũng may là có nhiều ông quan chép sử dù có chết cũng chẳng chịu để cho người khác bịt mồm. Thành ra, sử liệu mà người Tàu xưa để lại cho con cháu của họ ngày nay cũng khá là phong phú và giá trị.

Việt Nam mình thì ở sát ngay cạnh nước Tầu. Nhưng đáng tiếc là mình không học được mấy từ bài học của họ. Mà tiếc nhất có lẽ là mấy vụ choảng nhau giữa mình với họ lại không được chép vào chính sử một cách đầy đủ. Thế nên mới có chuyện một ông là phó giáo sư cay đắng thốt lên một sự thật rằng vợ ông, con ông, sinh viên của ông, đồng nghiệp của ông… toàn là trí thực bậc cao cả nhưng không biết ngày 17/2 là ngày đếch. Mà rõ ràng, chẳng riêng gì những người được ông phó giáo sư kể ra, mà còn rất nhiều, rất nhiều người khác cũng ở trong tình trạng tương tự.

Và cay đắng hơn cả cái sự cay đắng của ông phó giáo sư kia là cả một sự thật trần trụi rằng nhiều người Việt ngày nay tỏ ra rất hờ hững với cái gọi là sử học. Thế cho nên mới có chuyện học sinh chẳng buồn học sử, chẳng muốn thi sử, còn Thượng thư Bộ Lễ thì thản nhiên thừa nhận rằng, việc có hàng ngàn bài thi lịch sử đạt điểm không là chuyện bình thường. Và cũng vì cái bình thường đó nên ngày nay sinh viên nào ra trường mà cầm trong tay mỗi nhõn tấm bằng lịch sử thì khả năng phải xin đi theo Ngọc Trinh để học thêm một khoá bồi dưỡng về kĩ năng cạp đất là dường như chắc chắn.

Nhưng tất cả những thứ cay đắng này ở tự đâu mà ra? Phải chăng người Việt mình không coi sử sách là quan trọng, không muốn học các bài học của tiền nhân để lại, hay người Việt không sợ hậu nhân chê cười những việc mình làm ngày hôm nay?

Thực ra thì, đối với người Việt, cũng như người Tây hay người Tàu, thì lịch sử đều có tầm quan trọng như nhau. Cái khác biệt, có chăng, giữa chúng ta và họ (tức người Tây, người Tầu) là cách chúng ta ghi chép và truyền bá lịch sử. Muốn truyền bá tốt, tất nhiên phải có những pho sử tốt. Và ngược lại, truyền bá tốt cũng chính là cơ sở để làm kho tàng sử liệu ngày càng phong phú hơn và phát huy hiệu quả tốt hơn. Thế nhưng hình như cả hai việc này, Việt Nam đều làm chưa đạt.

Vấn đề nan giải hiện nay là, thế thì, người Việt bây giờ phải bắt đầu từ việc nào trước, chép sử hay truyền bá sử? Để trả lời được câu hỏi này thì chắc lại phải mời các vị ở Sử quán và Bộ Lễ họp lại với nhau để bàn. Lẽ đương nhiên, họp và bàn như thế nào là việc của các vị ấy, và đương nhiên, những gì mà các vị bàn và quyết hôm nay sẽ được ghi vào sử sách để hậu thế phán xử. Nhưng nếu một khi đã họp, đã bàn mà vẫn không quyết được nên bắt đầu từ đâu thì có lẽ hãy bắt đầu từ việc bàn cách giảm họp. Bởi nếu không, thì hậu thế sẽ lại phải mất công chê cười tiền nhân của chúng là sao họp lắm mà vẫn chẳng quyết được cái gì. Mà đấy không phải cũng là một điều đáng sợ ư?

Xem thêm: Phỏng vấn một nhà sử học

Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2014

Năm Ngọ nói chuyện ngựa


Nói về lòng trung thành của loài ngựa, hẳn nhiều người sẽ nghĩ đến ngựa Xích Thố của Quan Vân Trường[1]. Con ngựa này vốn ban đầu là của Đổng Trác tặng Lã Bố, nhưng sau đó Lã Bố bị Tào Tháo đánh bại nên con ngựa ấy lại thuộc về tay Tào Tháo và Tháo lại tặng nó cho Quan Vân Trường. Theo “Tam quốc diễn nghĩa” thì con Xích Thố này toàn thân một màu đỏ như lửa, tuyệt không có cái lông nào tạp, từ đầu đến đuôi dài một trượng, từ móng lên trán cao tám thước, ngày đi nghìn dặm không mỏi, lội dưới nước giống như đi trên cạn[2]. Ngựa Xích Thố quý đến nỗi khi nghe Tào Tháo ngỏ ý tặng nó cho mình, Quan Vân Trường lập tức quỳ xuống lạy Tào Tháo để tạ ơn, mặc dù trước đó Vân Trường không hề động lòng trước những vàng bạc, gấm vóc hay mỹ nữ mà Tháo ban cho[3]. Và chính sự dũng mãnh của Xích Thố đã nhiều phen giúp Quan Vân Trường lấy được đầu tướng giặc một cách dễ dàng, bởi không tướng nào có chiến mã chạy nhanh như ngựa Xích Thố của ông.

Sau khi thua trận ở Tương Dương - Phàn Thành, Quan Vân Trường phải tháo chạy về Tây Xuyên nhưng bị quân Đông Ngô phục bắt được, đem ra xử trảm. Con ngựa Xích Thố sau đó được Ngô chủ Tôn Quyền ban thưởng cho viên tướng đã có công bắt được Quan Vân Trường nhưng mấy hôm liền không ăn cỏ, rồi cũng chết[4].

Lại có một con ngựa khác cũng thường được người ta nhắc đến nhiều về lòng trung thành, đấy là con Ô Truy của Sở Bá vương Hạng Vũ. Tương truyền thì Ô Truy vốn là do một con rồng đen hoá thành, thường xuất hiện phá hoại mùa màng nhưng không ai trừ được bởi nó rất hung dữ, ai đến gần đều bị đá chết. Khi thấy Hạng Vũ, con ngựa cũng nhảy xổ tới, cắn đá rất hăng nhưng bị Hạng Vũ túm lấy bờm ghì xuống, không cử động nổi. Hạng Vũ liền lấy dây cương tròng vào, rồi nhảy lên cưỡi một hồi, con thần mã toát mồ hôi, đứng rũ chân, không còn dám hung hăng như trước[5]. Từ một con ngựa hoang, Ô Truy trở thành chiến mã của Hạng Vũ, theo ông chinh chiến hơn 7 năm, tung hoành khắp Trung Quốc, đi đến đâu chư hầu thần phục đến đấy.

Tuy nhiên, sau đó chư hầu lần lượt phản lại Hạng Vũ và đứng về phía Lưu Bang để chống lại ông. Hạng Vũ thua trận, dẫn tàn quân chạy đến bến Ô Giang thì cùng đường. Mặc dù bên sông đã có một chiếc đò chờ sẵn và có thể đưa Hạng Vũ qua sông để trở về cứ địa, nhưng Hạng Vũ hổ thẹn, không muốn qua đò mà quyết ở lại tử chiến với quân Hán đang đuổi tới. Ông nói với người chèo đò: “Ta có con ngựa quý, dùng đã mấy năm trong việc chiến chinh. Một ngày đi nghìn dặm, nó là một con thần mã rất khôn ngoan. Nay sợ quân Hán bắt được, mà giết đi thì không nỡ. Nhà ngươi nên đưa nó sang sông, đem về nuôi dưỡng. Sau này thấy nó cũng như thấy ta”. Dứt lời, sai tên tùy tốt dắt ngựa xuống thuyền. Con ngựa hí lên mấy tiếng, đưa mắt nhìn Bá vương, ra vẻ quyến luyến không nỡ rời. Người lái đò vừa buông chèo thì ngựa chúm bốn vó nhảy ùm xuống nước mất dạng. Sở Bá Vương giao chiến với quân Hán một hồi thì rút gươm tự vẫn[6].

Kể một vài câu chuyện như vậy để thấy rằng ngựa cũng là loài vật rất tình nghĩa. Tuy sự trung thành của loài ngựa không được nhắc đến nhiều trong văn chương như của loài chó, song trong các tác phẩm văn học dã sử, các bậc trung thần, lương tướng bao giờ cũng thể hiện sự tận trung của mình với đấng quân vương bằng những lời hứa “ra sức khuyển mã” để “tận trung báo quốc”. Điều đó cho thấy rằng loài ngựa (mã) cũng được coi như là một biểu tượng về sự trung thành, tận tuỵ, giống như loài chó (khuyển) vậy.

Ngày nay, khi chế độ phong kiến đã bị xoá bỏ gần như trên toàn thế giới và Đạo Khổng với những triết lý “trung quân” hay “tòng phụ”, “tòng phu” đang dần rơi vào quên lãng thì người ta không còn nhắc nhiều đến sự trung thành. Chính vì thế nên thi thoảng chỗ này, chỗ kia vẫn xuất hiện những chuyện khiến người ta giật mình về việc con người tráo trở, lật mặt với nhau, thậm chí bán đứng nhau dù rằng mới hôm nào còn hẹn núi thề non rằng sẽ cùng nhau gắn bó, cùng nhau sống chết hay sướng khổ có nhau… Những lúc như thế, không hiểu người ta có tự suy nghĩ về hành động của mình không, và có thấy hổ thẹn khi những loài vật mà họ vẫn hay coi thường như chó và ngựa còn biết thế nào là tình nghĩa, thế nào là thuỷ chung không.

​​
​​Phụ nữ thích cưỡi ngựa để tỏ rõ sức mạnh? (Ảnh chôm từ Wikipedia)
​​Có một điều hơi khó hiểu là trong văn hoá Việt Nam, đôi khi người ta đem loài ngựa ra để làm biểu trưng cho “sức mạnh” của phái nữ, và những người phụ nữ không chính chuyên thường được người đời âu yếm đặt cho bằng những cái tên nghe rất “ngựa”, tỉ như “con ngựa”, “ngựa đi hoang” hay “con đĩ ngựa”…[7] Nhưng nếu xem chuyện về Xích Thố và Ô Truy thì thấy, những tiếng lóng đó tỏ ra chẳng đúng với loài ngựa tẹo nào, bởi nói gì thì ngựa cũng là một loài sống có trước, có sau, có tình, có nghĩa. Hay là phải chăng, giống các chiến tướng nơi sa trường, phụ nữ chốn phòng the cũng thích “cưỡi ngựa” để tỏ rõ “sức mạnh” của mình, như cách Sở Bá Vương đã từng cưỡi cho con Ô Truy rũ cả chân và toát hết mồ hôi vậy? Hỡi ôi, nếu quả thật đúng là như thế thì đến Quan Vân Trường có sống lại cũng bỏ mẹ với cái trò “cưỡi ngựa” chứ chẳng chơi!

-----
[1] Thực ra thì Xích Thố không phải là tên một con ngựa, mà đúng hơn là một giống ngựa, bởi không chỉ mỗi con ngựa của Quan Vân Trường được gọi là ngựa Xích Thố mà trong văn học còn xuất hiện những con ngựa Xích Thố khác. Tuy nhiên, khi nói về ngựa Xích Thố, người ta thường nghĩ đến con ngựa của Quan Vân Trường.
[2] Xem: Tam quốc diễn nghĩa, Hồi 3
[3] Xem: Tam quốc diễn nghĩa, Hồi 25
[4] Xem: Tam quốc diễn nghĩa, Hồi 77
[5] Xem: Hán Sở tranh hùng, Hồi 3, Hồi 4
[6] Xem: Hán Sở tranh hùng, Hồi 40
[7] Xem: “Ngựa trong văn hoá đại chúng”

Thứ Hai, 16 tháng 12, 2013

Đã ngu thì đừng tỏ ra nguy hiểm!


Nước Sở hùng mạnh, muốn choảng nước Tuỳ nhưng lại giả vờ bày ra kế giảng hoà. Bấy giờ nước Tuỳ có một người tôi hiền là Quý Lương và một nịnh thần là Thiểu Sư, hai người luôn có ý kiến chống đối nhau. Vua Tuỳ lại thích nghe những lời bùi tai, nên Thiểu Sư rất có quyền thế.

Khi sứ nước Sở đến giảng hòa, vua Tuỳ cho đòi hai người đến vấn kế. Quý Lương tâu: “Nước Sở mạnh, nước Tùy yếu, nay lại đến cầu hòa ắt có điều ám muội. Vậy bề ngoài, ta nên hòa dịu, mà bên trong phải hết sức đề phòng”. Thiểu Sư tâu: “Lời ấy chưa chắc đã đúng. Xin Chúa công cho sang nước Sở để dò xét tình hình đã”.

Vua Tuỳ nghe theo, sai Thiểu Sư sang nước Sở thăm dò.

Nước Sở biết Thiểu Sư vốn là thằng bất tài đi lên bằng đầu gối, nên giấu hết các đạo binh tinh nhuệ đi, chỉ để cho Thiểu Sư nhìn thấy các đội quân già yếu mà thôi.

Thiểu Sư đến dinh Sở, liếc mắt thấy hai bên quân sĩ gầy gò ốm yếu nên sinh lòng kiêu căng, đồng ý giảng hoà với nước Sở. Đoạn về yết kiến vua Tùy, thuật lại tình hình quân binh nước Sở già nua, hèn yếu, rồi xin vua cấp một đạo binh để đuổi theo đánh cho quân Sở tan tành. Lần ấy may có Quý Lương ra sức can ngăn nên vua Tuỳ không cho Thiểu Sư xuất quân.

Vua Sở thấy nước Tuỳ không bị mắc mưu, liền tìm ra một cớ rồi lại cất quân sang đánh nước Tuỳ. Vua Tuỳ được tin, vội vã họp các quan thương nghị.

Quý Lương tâu: “Nước Sở thế rất mạnh, quân ta khó thắng nổi. Theo ý tôi, nên sai sứ đến cầu hòa. Nếu nước Sở lui binh thì ta giữ niềm hòa hảo, bằng nếu họ cố đánh, quân sĩ nước ta sẽ căm phẫn. Chừng ấy, ta lấy nhân tâm làm sức mạnh mà thắng địch”.

Thiểu Sư nghe nói cười xòa: “Sao ngài lại nhát gan đến thế! Đáng gì một mớ binh lao mã liệt của nước Sở mà phải hạ mình đi cầu hòa. Nếu ta không đánh gấp, e binh Sở lại có thì giờ rút về nước thì uổng lắm!”.

Vua Tuỳ nghe theo lời Thiểu Sư, bèn xuất quân để choảng nhau với người Sở.

Sau khi xem xét địch tình, Quý Lương nói với vua Tuỳ: “Quân Sở chia làm hai đạo. Theo phong tục nước Sở, đạo tả quân là chính, ắt có vua Sở ngự nơi đây, và có nhiều tinh binh hộ giá. Vậy ta nên đánh vào phía hữu để uy hiếp địch trước”.

​​​​Thiểu Sư nói: “Đã đem binh đi đánh giặc mà còn sợ không dám đánh vào đầu não của địch thì thật là kẻ không biết dụng binh. Xin Chúa công cứ cho đánh vào đạo binh phía tả để bắt vua Sở, kẻo mất thì giờ vô ích”.

Vua Tuỳ nghe theo, đốc binh xông vào phía tả. Vừa đến giữa trận, binh phục của Sở nổi dậy, ó lên một tiếng kéo nhau vây phủ tứ bề. Thiểu Sư giao chiến với tướng nước Sở chưa đặng mấy hiệp đã bị chém một đao rơi đầu. Quý Lương thấy thế đã nguy, liều chết phò vua Tùy mở đường máu mà chạy. Vua Tùy phải bỏ cả mũ áo, lộn trong đám tàn quân mới thoát khỏi vòng vây.

Cho hay, phàm đã đe*o biết gì thì đừng có cố mà tỏ ra nguy hiểm. Vả, nếu người cầm trịch mà không phân biệt được kẻ ngu người hiền thì cũng chẳng mấy mà chuốc lấy vạ vào thân vì nghe phải nhời thằng ngu.

Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2013

Ngô Khởi cải cách tiền lương


1. Ngô Khởi là người nước Vệ, do chăm chỉ học hành nên thông hiểu binh pháp, được vua nước Lỗ cất làm quan đại phu. Năm ấy nước Tề cất quân xâm phạm nước Lỗ, vua Lỗ liền sai Ngô Khởi làm đại tướng đem quân ra đánh Tề. Ngô Khởi dụng mưu, đánh bại quân Tề nhưng sau đó bị người Tề dùng kế li gián nên vua Lỗ sinh nghi, muốn giết Ngô Khởi.


​​Ngô Khởi (Ảnh chôm từ Wikipedia)
Ngô Khởi hay tin, liền bỏ trốn sang nước Nguỵ. Vua Nguỵ lại cho Ngô Khởi làm quan, sai ra trấn thủ đất Tây Hà. Ngô Khởi đến Tây Hà lo luyện quân sĩ, hết lòng thương yêu kẻ dưới, lại đắp thành để chống lại quân Tần, nhân dân được an cư lạc nghiệp. Khởi nghĩ mình có công, mong mỏi sẽ được cất nhắc làm Tướng quốc nước Nguỵ, nhưng vua Nguỵ lại cất người khác. Ngô Khởi có ý oán vọng, liền bỏ trốn sang nước Sở.

2. Vua nước Sở biết tiếng Ngô Khởi là người tài, liền cho làm Tướng quốc. Ngô Khởi cảm cái ơn ấy, muốn làm cho nước Sở hùng cường, mới tâu với vua Sở: “Nước Sở ta đất rộng mấy nghìn dặm, giáp sĩ kể có hơn trăm vạn, đáng lẽ thì đè ép được chư hầu mà nối đời làm minh chủ mới phải, thế mà nay vẫn không hơn được các nước, ấy là bởi chưa biết cái đạo nuôi quân. Cái đạo nuôi quân, trước hết phải cấp lương cho hậu thì họ mới chịu hết sức. Nay trong triều có nhiều chức quan không cần, nhiều người họ xa của nhà vua cũng ăn hại của kho nhà nước, còn lương chiến sĩ thì cấp cho chẳng được bao nhiêu, thế mà muốn khiến cho họ phải vì nước liều mình, chẳng cũng khó lắm ư? Nếu đại vương chịu theo kế tôi, thải bớt những chức quan không cần đi, giảm bớt lương những người họ xa đi, để đem bổng lộc mà cấp cho chiến sĩ, như thế mà nước không được cường thịnh thì tôi xin chịu tội chết”.

Triều thần đều can vua không nên theo kế của Ngô Khởi. Vua Sở không nghe, giao cho Ngô Khởi sửa lại quan chế, tước bỏ những chức quan không cần, kể hàng mấy trăm viên; con em các quan đại thần, không được dựa dẫm mà ăn lộc của nhà nước; lại định lệ cho những người trong vương tộc từ năm đời trở lên thì phải đi làm ăn, cũng coi như dân thường vậy, còn từ năm đời trở xuống thì cân nhắc họ gần họ xa mà cho lương nhiều hoặc ít. Vì thế mà sổ chi tiêu mỗi năm dôi ra kể hàng mấy vạn hộc lúa.

Rồi Ngô Khởi lại kén những quân tinh nhuệ trong nước, sớm tối luyện tập, xét ai là người tài giỏi thì cho ăn nhiều lương, có người được tăng lương gấp mấy lần trước. Bởi thế mà quân sĩ đều có lòng ganh đua nhau, binh lực nước Sở mạnh hơn cả thiên hạ, nước nào cũng kinh sợ, không dám đem quân gây hấn với nước Sở.

Đến khi vua Sở mất, chưa kịp khâm liệm thì con em các nhà quý thích đại thần thừa cơ nổi loạn, định giết Ngô Khởi. Ngô Khởi chạy vào nơi cung tẩm. Chúng đem cung tên đuổi theo. Ngô Khởi biết sức mình không địch nổi, mới ôm lấy thi thể vua Sở để cho các loạn thần sợ mà không dám phạm đến. Tuy nhiên các loạn thần không kiêng nể gì cả, giương cung bắn mấy mũi tên găm cả vào thi thể của vua. Ngô Khởi chết trong đám loạn tiễn.

3. Xem chuyện của Ngô Khởi thì thấy ý tưởng về cải cách chế độ lương bổng của ông ta là cực kì hợp lí. Dẫu rằng được đề xuất từ cách đây hàng gần ba nghìn năm, nhưng chính sách của Ngô Khởi tỏ ra không kém phần chí lí và hữu dụng so với các học thuyết quản lí hiện đại là bao nhiêu. Chính vì vậy, dưới thời cầm quyền của Ngô Khởi, nước Sở không hề có kiểu tuyển dụng quan lại “5C”, cũng không hề xuất hiện tình trạng quan lại “sáng cắp ô đi, chiều cắp về” hay tình trạng quan lại ngồi mát hưởng bổng lộc mấy tỉ quan tiền mỗi năm trong lúc lính tráng phải dòng lưng vét cống quanh năm nhưng bổng lộc không đủ sống...

Có thể nói, Ngô Khởi đã đặt một hòn đá tảng cực kì quan trọng xây nên nền móng của chính sách phân phối tiền lương dựa vào năng suất lao động mà nhiều nước phát triển vẫn sử dụng rộng rãi ngày nay.

Chỉ tiếc là Ngô Khởi quên mất một điều rằng, một khi quan lại đã được tuyển vào rồi thì muốn sa thải họ là điều cực kì khó. Và nữa, một khi xây dựng hay thực thi bất kỳ một chính sách gì thì phải xem chính sách đó đụng chạm đến quyền lợi của “nhóm lợi ích” nào, có như vậy thì mới đảm bảo được “tính bền vững” của chính sách.

Ngô Khởi là người chăm đọc sách nên chỉ nghĩ rằng cứ việc mang lí thuyết trong sách ra áp dụng là xong. Tiếc thay, sách của Ngô Khởi chẳng có quyển nào dạy cho ông ta biết là vuốt mặt thì không nên vuốt trứng cá. Ngô Khởi không biết điều đó, nên cuối cùng phải chết như một con nhím!